//
you're reading...
Phân tích- Đánh giá

Các kịch bản xung đột Iran-Israel (kỳ 2)

Là một đất nước có diện tích nhỏ, dân số hạn chế nhưng Israel lại thắng thế trong hầu hết các cuộc xung đột với cả khối Arab rộng lớn xung quanh.

Vị trí của Israel trong khu vực và các nước tiếp giáp

 

Nguyên nhân không chỉ ở sự ủng hộ của phương Tây mà còn nằm ở tiềm lực quốc phòng cực mạnh của đất nước này.

So với các nước trong khu vực Trung Đông, Israel là một nước có diện tích khá nhỏ, chỉ gần 21.000 km vuông (bằng 1/9 diện tích Syria, 1/50 Ai Cập hay 1/80 Iran). Dân số của Israel cũng ở mức khiêm tốn với gần 8 triệu dân.

Tuy nhiên, Quân đội Israel là một lực lượng không hề nhỏ bé trong khu vực. Với quân số 187.000 quân, đội quân này đông bằng gần một nửa Quân đội Iran, vốn có dân số đông hơn 9 lần và diện tích rộng hơn 80 lần, chưa kể về trang bị vũ khí hiện đại, Israel không thua kém bất kỳ đất nước nào trong khu vực.

Hải quân

Với bờ biển ngắn, chỉ 273 km, trong đó ngoài 7 km đường bờ biển giáp với biển Đỏ, còn lại hầu hết đường bờ biển của Israel thuộc về biển Địa Trung Hải, một vùng biển ít nguy cơ xung đột kể từ sau khi nước này kết thúc chiến tranh với Ai Cập. Chính vì lẽ đó, hiện nay Israel xây dựng lực lượng hải quân khá hạn chế với 1.000 sĩ quan và 8.000 binh lính, trong đó có 3.200 lính là quân nghĩa vụ.

Được thành lập lại năm 1987, sau gần 25 năm, lực lượng này đã có trong tay 3 tàu ngầm tấn công, ba tàu hộ tống cỡ nhỏ, 10 tàu cao tốc tên lửa, 40 tàu tuần tiễu và hai chiếc tàu đổ bộ đệm khí.

tàu ngầm tấn công Dolphin đóng tại cảng Haifa

Ba chiếc tàu ngầm Israel sở hữu thuộc loại tàu ngầm tấn công chạy diesel thuộc lớp Dolphin do Đức sản xuất dựa trên loại tàu ngầm Type-209 chuyên để xuất khẩu của nước này.

Những chiếc tàu ngầm này có giãn nước 1.640 tấn lúc nổi và 1.900 tấn khi chìm. Dù chỉ có kích thước bằng một nửa tàu ngầm Project 877EKM  lớp Kilo của Iran nhưng vũ khí của tàu ngầm lớp Dolphin cũng không hề thua kém, thậm chí còn vượt trội Kilo. Trong khi Kilo chỉ có 6 ống phóng ngư lôi cỡ 533 mm thì Dolphin vũ trang đến 10 ống phóng ngư lôi, gồm 6 ống cỡ nòng 533 mm có khả năng phóng tên lửa chống hạm Harpoon phiên bản phóng từ tàu ngầm và 4 ống cỡ nòng 650 mm.

Hiện có thông tin cho rằng Israel đã phát triển loại tên lửa hành trình có tên Popeye Turbo có khả năng phóng đi từ những ống phóng này. Tên lửa Popeye Turbo có khả năng mang một đầu đạn hạt nhân nặng 200 kg và đạt được tầm bắn lên tới 1.500 km trong một cuộc thử nghiệm của Israel vào tháng 5/2000.

 

Tên lửa hành trình phóng từ tàu ngầm Popeye Turbo biến thể cải tiến của Israel có tầm bắn tới 1.500 km

Ngoài 3 chiếc Dolphin trên, Israel cũng đã đặt hàng Đức đóng thêm 3 chiếc Dolphin khác ứng dụng nhiều công nghệ mới so với những chiếc tàu ngầm cũ, trong đó có công nghệ động cơ hoạt động không cần tiếp khí AIP. Những chiếc tàu ngầm mới này dự tính sẽ phục vụ hải quân Israel trước năm 2015.

Xương sống chính của lực lượng tàu nổi Israel khá hạn chế, gồm 3 tàu hộ tống hạng nhẹ lớp Saar 5 và 10 tàu tấn công tên lửa Saar 4 và Saar 4.5.

Những chiếc Saar 5 có lượng giãn nước đầy tải đạt 1.227 tấn, vũ trang 8 tên lửa chống hạm Harpoon và tên lửa phòng không Barak cùng hệ thống CIWS Phalanx và ống phóng ngư lôi Mark 32.

Cả 3 tàu này đều đóng tại cảng Haifa, phía Bắc Israel trong biển Địa Trung Hải. 10 chiếc tàu tên lửa còn lại của Israel thuộc lớp Saar 4.5 cũng chỉ được trang bị tên lửa chống hạm Harpoon hoặc loại tên lửa chống hạm tầm ngắn nội địa của Israel là Gabriel có tầm bắn khoảng 36 km.

Xương sống của lực lượng tàu nổi Israel, tàu hộ vệ hạng nhẹ lớp Saar-5

Ngoài một số tàu tuần tiễu có chức năng bảo vệ bờ biển khác, lực lượng hải quân Israel cũng vận hành 2 máy bay vận tải C-130H và 26 chiếc trực thăng bao gồm trực thăng vận tải như Bell 212 và trực thăng săn ngầm AS-565SA, SA-366G.

Chỉ có một căn cứ hải quân duy nhất nằm trên bờ biển Đỏ là cảng Eilat, còn lại toàn bộ các căn cứ hải quân của Israel nằm trên bờ biển Địa Trung Hải tại các thành phố như Haifa, Tel Aviv.

Cùng với đội hình tàu chiến thiếu vắng các tàu có khả năng thực hiện nhiệm vụ dài ngày trên biển (ngoại trừ 3 tàu ngầm Dolphin có khả năng tấn công răn đe bằng tên lửa hành trình), Hải quân của Israel chỉ làm nhiệm vụ chính là phòng thủ.

Trong tương lai, nếu Israel phải tấn công phủ đầu Iran, khi so sánh với các binh chủng khác của nước này, hải quân sẽ là lực lượng sau cùng được huy động.

Máy bay chiến đấu F-15 của Israel đã có bề dày thành tích qua chiến tranh (mỗi dấu tròn được sơn trên thân máy bay tương ứng với một máy bay đối phương bị tiêu diệt)

Kfir, sản phẩm nội địa của Israel.

F-16I hiện đại nhất trong dòng F-16.

F-16I, tên lửa Derby, Python và bom JDAM.

Phi đội AH-64 Apache của Israel.

UAV Heron của Israel.

Phòng không – Không quân

Qua hàng loạt các cuộc chiến với sự tham gia tích cực của không quân từ năm 1967 cho tới nay, Israel đã xây dựng được một binh chủng không quân đông đảo, trang bị hiện đại và nhiều kinh nghiệm.

Hiện tại, Không quân Israel có tổng cộng 32.500 binh sĩ, trong đó có 22.000 lính nghĩa vụ (chủ yếu phục vụ trong các đơn vị phòng không). Ngoài ra, lực lượng này có tới 54.000 lính dự bị có thể điều động bất cứ lúc nào cần thiết.

Toàn bộ lực lượng này phục vụ tại 11 căn cứ không quân trải dài khắp đất nước. Ngoài các đội bay chiến đấu, Israel còn sở hữu một số đơn vị đặc biệt như đơn vị tác chiến điện tử số 555 “Sky Crow”, đội bay thử nghiệm tên lửa số 151, đơn vị đặc nhiệm số 5101 Shaldaq.

Xương sống của không quân Israel là khoảng 400 máy bay chiến đấu thuộc bốn loại chính: Máy bay chiến đấu đa nhiệm F-16, phục vụ trong quân đội Israel từ năm 1980. Chiếm ưu thế trên không là những chiếc máy bay chiến đấu hạng nặng hai động cơ F-15, được mua về từ năm 1976.

Israel cũng sử dụng loại máy bay cũ hơn là F-4 loại 2 chỗ ngồi cho một số nhiệm vụ đối không và tấn công mặt đất và một loại máy bay nội địa khác là Kfir, chế tạo theo thiết kế máy bay Mirage-III của Pháp từ năm 1975.

Trước đó, Israel cũng vận hành một số máy bay A-4 Skyhawk mà nước này nhận được từ năm 1966, tuy nhiên toàn bộ số máy bay này đã được thải hồi để thay thế bằng những loại lớn hơn.

Trong giai đoạn 1998 – 1999, Israel cũng đã mua thêm hai loại máy bay F-16I và F-15I là những biến thể hiện đại hóa.

Hiện tại Israel sở hữu 102 chiếc F-16I và 25 chiếc F-15I. Những chiếc máy bay này, nhất là F-16I đã được nâng cấp lên biến thể Block 52 gần như hiện đại nhất của không quân Mỹ, có khả năng mang được các loại bom thông minh cũng như tên lửa diệt phong không tầm xa JASSM.

Trong tương lai, Israel tiếp tục đàm phán mua thêm loại máy bay thế hệ thứ 5 siêu hiện đại là F-35 của Mỹ. Nếu thương vụ này thành công, năm 2015 Israel có thể sở hữu thêm 25 máy bay F-35 JSF nữa.

Các phi đội máy bay chiến đấu của Israel cũng được hỗ trợ tối đa bởi những chiếc EC-707 Phalcon, loại máy bay cảnh báo sớm (AEW) được Israel tự chế tạo dựa trên máy bay Boeing 707 có khả năng vận hành vượt qua cả máy bay cảnh báo sớm E-2C mà Israel đã mua của Mỹ trước đó.

Nhằm đối phó với các nhóm du kích Hồi giáo và lực lượng thiết giáp của đối phương, Israel cũng trang bị một lực lượng đáng kể trực thăng vũ trang diệt tăng. Lực lượng này bao gồm 18 chiếc AH-64D Apache Longbow, 30 chiếc AH-64A Apache và 55 chiếc AH-1 thuộc hai biến thể E và F.

Thêm nữa, không thể không kể đến lực lượng UAV (thiết bị bay không người lái) của Israel. Trong những năm trở lại đây, Israel là một trong những nước phát triển UAV đi đầu trên thế giới để sử dụng trong nước và cả xuất khẩu ra nước ngoài.

Các sản phẩm UAV của Israel rất đa dạng: UAV tấn công tự sát như Harpy, UAV trinh sát, chỉ điểm  mục tiêu Scout, Heron, Hermes-450.

Ngoài một phần vũ khí nhập khẩu từ phương Tây, ngành công nghiệp quốc phòng phát triển rất mạnh của Israel cũng cung cấp được một lượng lớn vũ khí cho không quân nước này.

Các sản phẩm vũ khí của Israel đều có chất lượng cao và được chào đón nhiệt tình tại các thị trường nước ngoài. Tiêu biểu có thể kể đến như tên lửa không đối không tầm nhiệt Python đã được xuất khẩu đi châu Âu và Nam Mỹ (nguyên mẫu của tên lửa Python là Shafrir có hiệu suất tiêu diệt cực cao khi chỉ với 176 quả Shafrir-2, Không quân Israel đã hạ 89 máy bay đối phương trong cuộc chiến tranh Yom Kippur).

Để phục vụ cho mục đích đánh các trận địa phòng không và công trình được gia cố vững chắc, Israel cũng sở hữu loại bom thông minh JDAM, JDAM-ER (Extended Range – Tăng tầm) mua của Mỹ. Ngoài ra, các loại tên lửa không đối đất nội địa như Popeye-I, Popeye-II với đầu đạn nổ phá nặng 340 kg cũng là lựa chọn tốt cho những nhiệm vụ loại này.

Nhằm chống lại nguy cơ tấn công bằng tên lửa của đối phương, toàn bộ đất nước Israel cũng được bảo vệ bằng một hàng rào dày đặc các hệ thống phòng không hỗn hợp từ tầm thấp, tầm trung và tầm xa.

Chịu trách nhiệm phòng thủ chống tên lửa đạn đạo trong hệ thống này là các tên lửa phòng không tầm xa Arrow và biến thể hiện đại hơn là Arrow-2. Các tên lửa này được tin rằng có khả năng phòng thủ tên lửa tốt hơn cả hệ thống MIM-104 Patriot của Mỹ và đang được triển khai đại trà tại Israel sau các cuộc thử nghiệm thành công từ cuối những năm 1990 và đầu 2000.

Arrow là hệ thống phòng thủ tên lửa tầm xa có tầm bắn tới 148 km (Arrow-2), độ cao mục tiêu tối đa 60 km (vượt cả S-400 của Nga), và có tốc độ tên lửa đạt đến 2.500 m/s (Mach-9). Với các thông số này, Arrow có thể hạ gục hầu hết các tên lửa đạn đạo có tầm bắn dưới 3.000 km được phóng vào đất nước Israel.

 

Tên lửa phòng không tầm xa Arrow-2 của Israel đang khai hỏa.

Hệ thống phòng thủ chống lại đạn pháo phản lực và đạn cối Iron Dome nổi tiếng của Israel đã được cả Mỹ đặt mua

Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm trung của Israel cũng được đầu tư thích đáng với tên lửa Barak-8 với chức năng tương tự như tên lửa hải đối không ESSM của hải quân Mỹ. Barak-8 có tầm bắn tới 70 km và có thể đối phóng với các mục tiêu tên lửa hành trình siêu âm tốc độ tới Mach 3 như tên lửa đối hạm Yakhont mà Syria có thể mua của Nga.

Lớp phòng thủ cuối cùng là hệ thống đã quá nổi tiếng của Israel có tên Iron Dome (vòm sắt). Với radar có độ nhạy cao cùng thời gian phản ứng siêu tốc, Iron Dome có thể ngăn chặn cả những quả đạn pháo phản lực hay đạn pháo cối được bắn từ lãnh thổ đối phương vào đất nước này.

Hiện Iron Dome là mô hình tên lửa tầm ngắn tiên tiến được nhiều nước quan tầm. Thậm chí, Nga cũng đang phát triển một hệ thống phòng không điểm tương tự Iron Dome có tên là Morfei.

Binh sĩ Israel với mũ trùm vải Mitznefet đặc trưng.

Nam và nữ quân nhân bình đẳng.

Lục quân và các lực lượng đặc nhiệm

Trong Quân đội Israel, lực lượng có tần suất tham chiến không kém không quân là lục quân nước này. Liên tục được thử lửa trong các cuộc chiến tranh với Lebanon, Syria, 125.000 quân nhân lục quân Israel là một trong những lực lượng được huấn luyện tốt nhất thế giới.

Israel là một trong những nước có chế độ quân dịch chặt chẽ nhất toàn cầu. Các công dân Israel đủ 18 tuổi kể cả nam và nữ đều phải thực hiện nghĩa vụ quân sự. Thời gian phục vụ trong quân đội của những người này là 36 tháng đối với nam và 21 tháng đối với nữ. Hết thời gian phục vụ, những quân nhân này sẽ được giải ngũ nhưng họ có thể bị gọi lại bất kỳ lúc nào cho đến lúc 45 tuổi.

Bên cạnh đó, lục quân Israel cũng sở hữu một lượng khí tài khổng lồ, thậm chí là gấp nhiều lần những người hàng xóm rộng lớn xung quanh. Họ có trong tay 3.000 xe tăng chủ lực, hơn 10.000 xe bọc thép các loại, 600 pháo tự hành, 200 hệ thống pháo phản lực bắn loạt và khoảng 1.000 hệ thống pháo phòng không.

Xe thiết giáp Israel đang bắn tên lửa chống tăng Tamuz

Trong 3.000 chiếc xe tăng Israel đang sở hữu, 900 chiếc thuộc các loại Magach-6 và Magach-7 (biến thể của xe tăng M-60 của Mỹ được Israel cải tiến bằng cách lắp thêm giáp phản ứng nổ và hệ thống điều khiển bắn mới) và 1.800 chiếc thuộc dòng xe tăng Merkava các loại, trong đó số lượng loại xe tăng hiện đại nhất Merkava Mk4 là 300 chiếc.

Xe tăng Merkava Mk4 là một trong những loại xe tăng có chất lượng có thể coi là đứng đầu thế giới. Thiết kế của xe có nhiều đặc điểm ưu việt như vỏ giáp composite đa lớp, đạn pháo được chứa trong khoang chống cháy riêng tách rời khỏi tháp pháo, trang bị hệ thống phòng thủ chủ động (APS) Trophy tiên tiến, cơ cấu pha loãng khí thải giảm bức xạ hồng ngoại…

Đặc biệt, các dòng xe tăng Merkava có một đặc điểm mà không chiếc xe tăng nào có được là thiết kế động cơ ở phía trước với cửa thoát hiểm phía sau giúp lái xe dễ dàng thoát thân khi xe bị bắn hạ (so với xe tăng truyền thống thiết kế cửa thoát hiểm dạng nắp phía trên).

Thiết kế đặc biệt với cửa thoát hiểm đằng sau của xe tăng Merkava

Tuy nhiên, đóng vai trò chính nếu xung đột xảy ra giữa Israel và Iran sẽ không phải lực lượng lục quân hùng hậu trên mà chính là các lực lượng đặc nhiệm nổi tiếng của Israel.

Israel đã có truyền thống xây dựng lực lượng đặc nhiệm từ rất lâu, ngay từ khi lập nước năm 1948. Lực lượng đặc biệt đầu tiên nước này xây dựng là biệt đội Tzanhanim, đơn vị lính dù tinh nhuệ xây dựng vào tháng 6/1948 với nhiệm vụ thực hiện các nhiệm vụ quan trọng nhất.

Trong các cuộc xung đột quy mô nhỏ trong những năm 1950 giữa Israel và các nước Arab, không chỉ lính bộ binh bình thường, lực lượng Tzanhanim cũng chưa đủ kỹ năng để thực hiện các nhiệm vụ cần thiết, do đó, năm 1951, Israel thành lập tiếp đội 30 gồm những nhóm tác chiến nhỏ và được huấn luyện cực kỳ kỹ càng. Mặc dù vậy, với sự tiến triển của tình hình, tính chuyên nghiệp của đội 30 cũng vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu, do đó đội này bị giải tán năm 1952.

Ảnh chụp đội đặc nhiệm 101 của Israel năm 1955

Tháng 8/1953, Israel tiếp tục xây dựng một lực lượng tinh nhuệ khác có tên đội 101, chỉ huy bởi nguyên thủ tướng Ariel Sharon với vai trò thực hiện các nhiệm vụ khó khăn tại nước ngoài. Nòng cốt của đội đặc nhiệm này là 20 – 25 binh sĩ cực kỳ tinh nhuệ được tuyển chọn từ đội Tzanhanim và đội 30 trước kia.

Việc thành lập đội 101 là một mốc rất quan trọng của quân đội Israel khi xây dựng lực lượng đặc nhiệm chuyên nghiệp. Mặc dù vậy, đội 101 cũng không tồn tại lâu, sau vụ tấn công vào ngôi làng Qibya tại bờ Tây sông Jordan làm thiệt mạng 42 dân thường, đội này đã bị giải tán và sau đó hợp nhất với lực lượng Tzanhanim còn lại để tạo thành hai tiểu đoàn đặc nhiệm số 869 và số 101.

Không lâu sau đó, năm 1958, đội đặc nhiệm chính thức của Israel được thành lập với thành phần chính là các thành viên đã giầu kinh nghiệm từ đội 101. Đội đặc nhiệm này có tên là Sayeret MATKAL và có tổ chức, huấn luyện tương tự như đặc nhiệm SAS của Anh.

Đặc nhiệm Sayeret MATKAL của Israel ngày nay

Mặc dù có năng lực chống khủng bố rất kém khi mới thành lập, nhưng sau đó các đội đặc nhiệm của Israel đã tiến bộ rất nhanh và ngày nay họ là những người sở hữu kỹ năng chống khủng bố tiên tiến nhất. Các chiến công có thể kể đến của lực lượng này như ngăn chặn vụ khủng bố tại Olympics Munich 1972 hay giải cứu con tin Israel tại sân bay Entebe (Uganda) năm 1976.

Tuy nhiên, lực lượng đặc nhiệm Israel cũng gặp phải những thất bại, trong đó lớn nhất là thảm họa năm 1974 tại trường trung học Mahalot. Hoạt động giải cứu con tin bất thành tại trường trung học Mahalot, nơi 3 tên khủng bố bắt giữ học sinh ngôi trường này làm con tin đã dẫn tới cái chết của 21 học sinh và bốn nhân viên khác. Thậm chí, hai trong số các con tin bị giết đã bị trúng đạn của các lực lượng giải cứu.

Bên cạnh đặc nhiệm quân đội Sayeret, đội đặc nhiệm không quân 5101 Shaldaq  cũng không kém thành tích. Dù mới thành lập năm 1974 với quân số chỉ từ 40 – 50 người, nhưng Shaldaq có bề dày thành tích không kém các đội dặc nhiệm khác khác.  Năm 1991, đội Shadaq đã bảo vệ thành công 14.000 người Do Thái đào thoát an toàn khỏi thủ độ Addis Ababa của Somalia bằng đường hàng không.

Năm 2006, tại Baalbek, đội này đã bắt giữ thành công một lãnh đạo cấp cao của Hezbollah, giết 19 chiến binh Hezbollah khác trên đường trốn thoát mà không có tổn thất nhân mạng.

Gần đây nhất, năm 2007, đặc nhiệm Shaldaq đã đột nhập thành công vào một cơ sở hạt nhân ngầm dưới lòng đất của Syria và sau đó chỉ điểm thành công cho máy bay Israel ném bom hủy diệt cơ sở này.

Ngoài các đội đặc nhiệm đã nổi tiếng, Israel cũng sở hữu nhiều đội quân bí mật khác như Yamas, Duv Devan… và  một số dưới quyền cơ quan tình báo Mossad với rất nhiều “thành tích” ám sát lãnh đạo cấp cao của các tổ chức Hồi giáo cực đoan, các cựu sĩ quan phát xít Đức lẩn trốn tại Nam Mỹ hay các nhà khoa học hạt nhân của Iran.

Các thành viên của đội đặc nhiệm Yamas. Lực lượng này có vai trò chuyên giả trang, trà trộn vào các nhóm cực đoan người Arab để thu thập thông tin hoặc ám sát

Tên lửa đạn đạo

Israel gia nhập hàng ngũ các nước sở hữu tên lửa đạn đạo từ khá sớm. Năm 1962, với sự giúp đỡ của công ty Marcel-Dassault, Israel bắt đầu nghiên cứu chế tạo loại tên lửa đạn đạo đầu tiên của mình có tên Jericho-1.

Trong 16 cuộc thử nghiệm được tiến hành từ năm 1965 tới năm 1968, 10 lần đã thành công. Năm 1973, tên lửa Jericho-1 được đưa vào biên chế quân đội Israel đóng tại Zacharia, phía  Nam Tel Aviv.

Tầm “bao phủ” của các loại tên lửa Israel

Jericho-1 là loại tên lửa đạn đạo tầm ngắn (SRBM) mang đầu đạn thông thường nặng 450 kg hoặc một đầu đạn hạt nhân 20 kT. Tầm bắn của loại tên lửa này đạt 500 km, có thể dễ dàng tấn công thủ đô Cairo của Ai Cập hay Damascus của Syria nều cần thiết.

Tuy nhiên, độ chính xác của Jericho-1 khá nghèo nàn với mức CEP tới 1.000 m, chỉ tương đương các tên lửa Scud-B, do đó, Israel đã thải hồi loại tên lửa này để sử dụng các loại tên lửa mới hơn là Jericho-2 và Jericho-3

Tên lửa Jericho-3 được thử nghiệm đầu năm 2008

Tên lửa Jericho-2 cũng là loại tên lửa sử dụng nhiên liệu rắn sử dụng bệ phóng lưu động như Jericho-1. Việc nghiên cứu loại tên lửa này được tiến hành từ năm 1977 và bắt đầu hoàn thiện bắn thử năm 1986.

Năm 1990, Jericho-2 được đưa vào sử dụng và đóng quân chủ yếu cũng tại Zacharia cùng với Jericho-1. Jericho-2 có tầm bắn tới 1.400 km, có khả năng mang một đầu đạn thông thường nặng 1.000 kg hoặc một đầu đạn hạt nhân sức nổ 1.000 kT.

Một số nước phương Tây tin rằng, với thiết kế của Jericho-2, Israel có thể dễ dàng nâng tầm tên lửa bằng cách giảm nhẹ khối lượng đầu nổ và tầm tối đa tên lửa này có thể đạt được sẽ lên tới 4.000 km, đủ sức tấn công tất cả các mục tiêu tại châu Âu và một phần Nga, Trung Quốc. Hiện nay, Israel sở hữu 90 tên lửa loại này.

Loại tên lửa mới nhất hiện đang được phát triển là tên lửa Jericho-3 với tầm bắn tối đa lên đến 6.500 km. Tên lửa này có khả năng mang một đầu đạn hạt nhân nặng 750 kg hoặc ba đầu đạn hạt nhân MIRV.

Với tầm xa và tốc độ của nó, Jericho-3 dễ dàng đánh phủ đầu tất cả các quốc gia thù địch trong khu vực và vượt qua mọi hàng phòng thủ tên lửa các nước này có thể tiếp cận.

Có thể thấy, mô hình xây dựng quân đội Israel chủ yếu nhằm vào mục đích răn đe phủ đầu kết hợp với việc tấn công chính xác, đập tan đầu não quân địch ngay từ khi mới bắt đầu cuộc chiến.

Ngay cả khi đối thủ là một quốc gia lớn, có tiềm lực như Iran, việc Israel giành ưu thế cũng là điều có thể dự đoán trước.

Sưu tầm

Thảo luận

Trackbacks/Pingbacks

  1. Pingback: Các kịch bản xung đột Iran-Israel (kỳ 3) « Lê Phú - Tháng Mười Một 26, 2011

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: