//
you're reading...
Nga

Tiềm lực quân sự Nga

Tên lửa Nga:

Vừa qua Việt Nam ta vừa nhập của Nga 1 số Tổ hợp tên lửa chống hạm “Bastion” sử dụng tên lửa “Yakhont” hay còn gọi là “onik”. Đây là tổ hợp tên lửa chống hạm rất hiện đại và rất cơ động. Tổ hợp tên lửa “Bastion” có thể lắp đặt trên xe MZKT (do nhà máy МАЗ- Belarus sản xuất) đi kèm với xe chỉ huy, radar định vị, điều khiển – dẫn bắn

Tên lửa hành trình có cánh, siêu thanh “Yakhont” được sản xuất để tiêu diệt 1 hoặc 1 nhóm tầu nổi của đối phương với những trang bị hiện đại về hỏa lực cùng các biện pháp đối phó can thiệp bằng các kỹ thuật điện tử (gây nhiễu, tàng hình v.v..).

Tên lửa hành trình có cánh siêu thanh “Yakhont” là thế hệ tên lửa chống hạm thứ 4. Nó được tiến hành nghiên cứu những năm cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 của thế kỷ trước. Việc nghiên cứu, chế tạo tên lửa “Yakhont” được tiến hành tại nhà máy “Cơ khí chế tạo máy – Tổ chức nghiên cứu thực nhiệm” (ПО “СТРЕЛА” Thành phố Orenburg – Liên bang Nga) dưới sự lãnh đạo của tổng công trình sư  Г.Э Фремов. Tên lửa “Yakhont” có sự khác biệt rõ ràng với các tên lửa chống hạm trước đó, nó được nghiên cứu phát triển trong một “chuyên ngành hẹp”. Theo kế hoặch tên lửa sẽ được lắp đặt trên tầu nổi, tầu ngầm, ca nô, máy bay (MiG-29 mang được 2 quả; SU-30, SU-33 (3 quả), TU 124 (8 quả) và trên xe kéo trọng tải lớn (dòng xe MZTK trang bị 3 quả).

Tổ hợp tên lửa chống hạm ” Bastion” sử dụng tên lửa “Yakhont” với những ưu điểm nổi bật:
– Bắn loạt.
– Tự động tác chiến.
– Uyển chuyển trong việc lựa trọn quỹ đạo bay (cao, thấp).
– Tốc độ siêu âm trong toàn bộ hành trình.
– Hệ thống radar định vị có khả năng chống phát hiện cao (công nghệ “Tàng hình”).



Tổ hợp tên lửa Bastion được đặt trên xe MZKT-7930.

Quả tên lửa Yakhont.

Tên lửa Yakhont trang bị trên máy bay.


Tên lửa Yakhont trang bị trên tầu.

Tên lửa “Yakhont” sử dụng hệ thống khí động lực với các hình thang cân ở cánh và đuôi. Kết hợp phương pháp khí động học như ở thân máy bay với động cơ đẩy phản lực không khí, sử dụng nhiên liệu rắn (SPVRD) cho phép tên lửa đạt tốc độ siêu thanh. Chỉ cần từ 2-3,5 phút  tên lửa có thể đạt trần bay từ 0-20.000m. Trọng lượng trước khi phóng là 4000kg, trọng lượng đầu nổ 200kg-250kg (đầu đạn), tầm bắn 300km.

Tên lửa siêu thanh “Yakhont” là tên lửa có tính cơ động rất cao, tác chiến trong mọi điều khiện thời tiết, góc bắn lớn lên tới 150o với khả năng uyển chuyển trong việc lựa chọn quỹ đạo bay giúp nó tránh được những tên lửa đạn đạo của đối phương.

TÊN LỬA HÀNH TRÌNH CHỐNG HẠM P-700 “GRANIT”.

Tổ hợp tên lửa hành trình tầm xa chống hạm P-700 ” Granit” được thiết kế để trang bị trên tầu nổi, tầu ngầm với nhiệm vụ tiêu diệt 1 hoặc nhóm tầu nổi của đối phương (khối NATO). Tổ hợp tên lửa tầm xa chống hạm P-700 “Granit” được phát triển bởi Viện khoa học-Thiết kế cùng nhà máy cơ khí chế tạo dưới sự lãnh đạo của giám đốc thiết kế Vladimir Chenomei. Tổ hợp tên lửa chống hạm P-700 với tên lửa 3M-45 mà phương Tây gọi là ” SS-N-19″ ShipWreck.

Đề án tên lửa chống hạm tầm xa P-700 “Granit” được tiến hành từ đầu những năm 1969. Năm 1979 đã có cuộc thử nghiệm quốc gia với tổ hợp tên lửa P-700 “Granit”. Cuộc thử nghiệm ban đầu được tiến hành trên giá phóng đặt trên bờ, sau đó là giá phóng trên mũi tuần dương hạm “KIPOV”  và cuối cùng là trên tầu ngầm. Các cuộc thử nghiệm tổ hợp tên lửa P-700 kết thúc vào năm 1983. Ngày 12/3/1983 theo quyết định của chính phủ Liên Xô, tổ hợp tên lửa hành trình tầm xa chống hạm P-700 ” Granit” được tiếp nhận và đưa vào trang bị cho lực lượng Hải quân Xô Viết.

Trong quá trình tạo ra tổ hợp tên lửa P-700 có sự hợp tác rất lớn giữa các cơ quan (Đã có gần 20 viện nghiên cứu- thực nghiệm, cùng nhiều tập thể cán bộ khoa học, viện sỹ viện hàn lâm, nhà thiết kế cùng hợp tác thực hiện đề án). Giải pháp thiết kế tổ hợp tên lửa P-700 “Granit” trang bị cho tầu nổi, tầu ngầm được đánh giá cao do tính tác chiến hiệu quả, giá thành và thời gian thực hiện khả thi. Trên cơ sở phân tích đòi hỏi của tổ hợp tên lửa hành trình tầm xa, tên lửa 3M-45 được đánh giá là có khả năng giải quyết mọi nhiệm vụ tác chiến trên biển.

Tổ hợp tên lửa hành trình tầm xa chống hạm P-700 “Granit” được phát triển để tấn công các tầu nổi của đối phương từ cự li rất lớn. Vấn đề nổi lên là quản lý cơ sở dữ liệu mục tiêu và xử lý dữ liệu thế nào. Với qui mô toàn cầu, nhiệm vụ của tên lửa chỉ có thể thực hiện trong trường hợp có sự giúp đỡ của các thiết bị vệ tinh. Cơ sở lý luận để xây dựng hệ thống vệ tinh không gian:Tham số, quĩ đạo , vị trí giữa các vệ tinh tương hỗ trong quĩ đạo  …vv, được viện sỹ M.V keldysha trực tiếp giải quyết. Hệ thống bao gồm các vệ tinh địa tĩnh và vệ tinh tình báo. Thông tin về mục tiêu vệ tinh phát hiện được truyền trực tiếp cho radar gắn trên tên lửa hoặc trạm chỉ huy mặt đất.

Vấn đề thứ 2 là lựa chọn hệ thống điều khiển cho tổ hợp tên lửa chống hạm. Trên cơ sở dùng 3 hệ thống máy tính công suất mạnh, sử dụng nhiều kênh thông tin giúp cho việc sử lý mục tiêu dẫn bắn cho tên lửa 1 cách chính xác trong điều kiện có nhiễu động phức tạp. Hệ thống điều khiển cho tổ hợp tên lửa phải xác định chính xác được mục tiêu cần diệt trong mọi nền nhiễu động, đó là yêu cầu tiên quyết. Việc tạo ra hệ thống điều khiển tổ hợp tên lửa P-700 “Granit” do các nhà bác học, thiết kế thuộc viện nghiên cứu TW. Lãnh đạo viện là anh hùng lao động, Viện sỹ viện hàn lâm người được thưởng huân chương  Lenin .

Tên lửa 3M-45(P-700) có quỹ đạo bay thích hợp, tùy thuộc vào địa hình mà nó tác chiến như trên biển, trên không vv… Tốc độ tối đa của tên lửa tương ứng M=2,5 (tầm cao) và M=1,5 ( tầm thấp). Tổ hợp tên lửa được hỗ trợ bắn 1 quả hoặc bắn loạt cho toàn bộ cơ số tên lửa tham gia tác chiến. Với sự phân bổ vị trí tên lửa trong không gian hợp lý cho phép thực hiện tấn công 1 tầu đối phương trên nguyên tắc ” 1 tên lửa-1 tầu” hoặc ” 1 loạt tên lửa với 1 nhóm tầu”.

Trong hành trình phóng loạt tên lửa 3M-45(P-700), 1 tên lửa thực hiện vai trò như 1 “trinh sát” bay ở quỹ đạo cao tối đa hóa nắm bắt mục tiêu. Trong khi đó 1 tên lửa khác bay ở quỹ đạo thấp. trong quá trình bay 2 tên lửa sẽ tự động trao đổi thông tin về mục tiêu. Trong trường hợp tên lửa “Trinh sát” bị tên lửa đánh chặn đối phương bắn hạ, tên lửa kia lập tức tự động cập nhật thông tin và tiếp nhận chức năng của tên lửa kia.

Quả tên lửa 3M-45 ( P-700)

Tổ hợp tên lửa P-700 ” Granit” đặt trên tầu nổi.

Tên lửa 3M-45 (P-700) được phóng ra từ tầu ngầm nguyên tử đề án 949.

TÊN LỬA CHỐNG HẠM TỔNG HỢP 3M51(ALPHA) 1993

Tên lửa 3M51″Alpha” được thiết kế để tiêu diệt tất cả các loại tầu nổi, trong điều kiện chúng được trang bị hỏa lực tấn công và đối phó mạnh, với sự hỗ trợ đắc lực của hệ thống vô tuyến điện. Tên lửa 3M51″Alpha” có thể được lắp đặt trên tầu chiến, tầu ngầm hoặc máy bay. Tên lửa 3M51″Alpha” được phát triển MKБ (машиностроительное конструкторское бюро – Phòng thiết kế nhà máy chế tạo máy mang tên ” Người cải tiến” thành phố Ekaterinbyrg). Tên lửa 3M51″Alpha” lần đầu được trưng bày tại triển lãm vũ khí Abu-Dhibi năm 1993, và cùng năm nó lại tiếp tục được đưa ra giới thiệu tại triển lãm vũ khí “Maks” tại Zhukovsky. Phương Tây giọi tên lửa tên lửa 3M51″Alpha” là : ” SS-N-27 “Klub”.Tên lửa 3M51″Alpha” trang bị trên tầu nổi hoạt động theo 3 chu trình. Chu trình 1: Khởi động-phóng : Cung cấp cho tên lửa lấy đà và phóng (Giai đoạn này nếu tên lửa lắp đặt trên máy bay sẽ không có). Chu trình này tên lửa được cung cấp năng lượng bởi 1 động cơ sử dụng nhiên liệu rắn. Chu trình 2 : Tên lửa bay trong quỹ đạo, cung cấp năng lượng cho hành trình của tên lửa là động cơ turbo 2 trục khuỷu (TДД-турбореактивный двигатель двухвальный) R95-300( RDK-300) được phát triển bởi phòng thiết kế ” Liên minh”. Chu trình 3: Tác chiến, lúc này tên lửa đang bay với tốc độ siêu âm (Khoảng 3M) để chọc thủng lưới phòng không của đối phương với các tên lửa đánh chặn tầm ngắn. Phiên bản tên lửa chống hạm tổng hợp 3M51 trang bị trên tầu nổi có thể được phóng từ giàn phóng thẳng đứng hoặc nằm nghiêng.

Sau khi tên lửa 3M51 được phóng đi, khi tên lửa đạt độ cao 150m bắt đầu xảy ra quá trình tách xuất phát, chuyển sang tăng tốc. Cửa lấy khí  ở đầu tên lửa bắt đầu mở, tên lửa phát động chu trình 2 bởi sự làm việc của động cơ phản lực không khí. Cánh tên lửa mở ra, lúc này tên lửa hạ thấp độ cao ( khoảng 10-15m cách mặt nước biển). Sau khi tên lửa được phóng lên và bay vào quỹ đạo tên lửa bay với tốc độ siêu âm. Khi cách mục tiêu khoảng 30-40km tên lửa bay theo kiểu “Quả đồi” có nghĩa là uốn lượn như sóng. Sau khi nắm bắt được mục tiêu tên lửa tự động tăng tốc với sự trợ giúp của  máy gia tốc sử dụng nhiên liệu rắn. tên lửa bay tới gần mục tiêu tự động hạ thấp độ cao (3-5m) và di chuyển theo hình chữ chi, mục đích vượt qua  xác suất đánh chặn của tên lửa đối phương. Hệ thống điều khiển tên lửa có khả năng chọn phương án tấn công cho tên lửa 1 cách tốt nhất. Ngoài ra để tấn công 1 nhóm tầu nổi, có thể phóng 1 loạt tên lửa 3m51 “Alpha” từ nhiều hướng, mà mục tiêu chụm ở 1 điểm.

Ra đa dẫn đường tìm diệt mục tiêu  (APГ54 ), được phát triển bởi Cty ” Radar-MMC” thành phố St-Pertersbyrg. Chiều dài của rada APГ54 là :54-70cm, đường kính của rada là 42cm, trọng lượng 40kg. Rada có khả năng kháng nhiễu cao và hoạt động tốt khi có sóng cấp 5-6 trên biển.
Tên lửa 3M51″Alpha” phiên bản xuất khẩu : “Alpha” kor.
Tên lửa 3M51 “Alpha” thường được trang bị trên máy bay có khả năng tác chiến trên biển như : Su 27, Su 30MK2, Su 33, Su 37.

Tên lửa 3M51 “Alpha” trang bị trên máy bay.

TÊN LỬA CHỐNG HẠM CÓ CÁNH P-500 ” BAZAL” (4K80)

Tên lửa chống hạm có cánh P-500 ” Bazalt” (4k80) được phát triển bởi OKБ-52 ( опытно-конструкторское бюро – Phòng thiết kế thực nghiệm số 52), theo quyết định SM 250-89 ký ngày 28/2/1963. Tên lửa P-500 được chế tạo để chống lại nhóm tầu nổi có kích cỡ, công suất lớn, trang bị hỏa lực mạnh như : Tuần dương hạm, tầu sân bay. Tên lửa P-500 được sản xuất để trang bị cho tầu nổi và tầu ngầm.

Phác thảo đề án tên lửa chống hạm có cánh P-500 “Bazalt” (4k80) được hoàn thành tháng 12/1963.

Giai đoạn đầu của cuộc thử nghiệm tên lửa P-500 được tiến hành tại bãi thử SM-49 Nenoksa từ tháng 10/1969 đến tháng 10/1970.

Năm 1975 tên lửa P-500 được tiếp nhận trang bị cho tầu ngầm hạt nhân theo đề án 675 ( Đây là đề án thay thế tên lửa P-6 bằng tên lửa P-500).

Năm 1977 tên lửa P-500 được tiếp nhận trang bị đầu tiên cho tuần dương hạm “Kiev” theo đề án 1143. Có 3 tuần dương hạm trong đề án này được trang bị tên lửa chống hạm có cánh P-500 “Bazalt” với 4 ống phóng kép SM-24 với 8 tên lửa P-500 (trực chiến) và 8 tên lửa P-500 (Dự trữ chiến đấu).

Tuần dương hạm thứ 4 được trang bị P-500 theo đề án 1143.4 là “Đô đốc Gorshkov” ( Đề án nâng cấp từ đề án 1143) trang bị 6 ống phóng kép SM-241 với 12 tên lửa.

Tên lửa chống hạm có cánh P-500 được đưa vào trang bị cho lực lượng Hải quân Xô viết với những giai đoạn sau: Tuần dương “Kiev” được trang bị tháng 12/1975. Tuần dương ” Misnk ” được trang bị tháng 9/1978. Tuần dương  ”Novorossisk” được trang bị tháng 8/1978 và cuối cùng là tuần dương” Đô đốc Gorshkov” được trang bị 12/1987.

Động cơ cho tên lửa P-500 được phát triển từ động cơ được lắp cho tên lửa P-6 trước đó nhưng có công suất đẩy lớn hơn nhiều. Đây là động cơ phản lực không khí Turbo KR-17-300 được phát triển bởi OKБ ГКАТ( опытно-конструкторское бюро – Phòng thiết kế thực nghiệm ) năm 1965. Sau này OKБ-670 ( Phòng thiết kế thực nghiệm 670) nghiên cứu phát triển tên lửa P-500 thành phiên bản P-500P theo đề án СПВРД (сверхзвуковой прямоточный воздушно-реактивный двигатель – Tên lửa siêu thanh động cơ phản lực không khí)  .

Thiết bị phóng cho tên lửa P-500 được phát triển bởi phòng thiết kế đặc biệt nhà máy chế tạo máy tại Leningrag dưới sự lãnh đạo của giám đốc thiết kế Chernetsky.

Tên lửa P-500 được trang bị trên tuần dương “Vinh quang” theo đề án 1164 năm 1982. Đề án được phát triển bởi phòng nghiên cứu thực hiện đề án phía bắc giám đốc phụ trách đề án A.K Perkov. Đây là 1 đề án trang bị tên lửa P-500 có liên hạn bảo quản rất cao đến 16 năm không cần bảo dưỡng.

Phương tây gọi tên lửa P-500 là : “SS-N-12″ Sandbox.


Tính năng kỹ thuật tên lửa P-500 :

– Tầm bắn : 500km.
-Tốc độ: 2-2,5M.
-Chiều dài tên lửa :  11,7m.
-Đường kính lớn nhất của tên lửa : 0,88m.
-Sải cánh : 2,1m.
-Trọng lượng trước khi phóng: 4800kg.
-Trọng lượng phần tác chiến (đầu đạn): 500kg.
Tên lửa có thể mang đầu đạn thông thường hoặc đầu đạn hạt nhân.

Tên lửa P-500.

Tên lửa P-500 trang bị trên một trong những tuần dương đề án 1143.

THÊM 1 SỐ HÌNH ẢNH VỀ TÊN LỬA P-500 ” BAZALT”.

Phần đuôi tên lửa P-500.

TỔ HỢP VŨ KHÍ TÊN LỬA CONTAINER CLUB-K

Tổ hợp vũ khí tên lửa Container “Klub-K” được thiết kế để chống lại các tầu nổi, các mục tiêu trên đất liền. Tổ hợp tên lửa “Klub-K” sử dụng tên lửa hành trình 3M-54TE hoặc  3M-54TE1, 3M-14TE. Tổ hợp vũ khí tên lửa Container “Klub-K” khi ra đời gây sửng sốt cho giới quân sự nhiều nước bởi khả năng ngụy trang, phạm vi tác chiến và đặc biệt là tốc độ . Tổ hợp vũ khí tên lửa Container “Klub-K” có thể ngụy trang , vận chuyển trên tầu hỏa, xe kéo container, trên các tầu nổi.
Tổ hợp vũ khí tên lửa Container “Klub-K” có thể đựng trong 1 container 40 Foot.Tại triển lãm vũ khí diễn ra vào tháng 4/2010 tại Malaysia, lần đầu tiên Nga giới thiệu tổ hợp tên lửa Club-K được ngụy trang như một container chở hàng tiêu chuẩn 12 mét có giá 15 triệu đôla.Nga xuất khẩu tổ hợp tên lửa “Klub-K” với 2 phiên bản tên lửa 3M-54TE và 3M-14TE.Tầm bắn của 2 phiên bản tên lửa xuất khẩu này là 300km , nhưng tầm bắn của tên lửa dùng trong quân đội Nga lên tới gần 500km. Ấn Độ là nước đầu tiên đặt mua tổ hợp tên lửa “Klub-K” . Chức năng của tổ hợp tên lửa “Klub-K” với Modul phóng tổng hợp USM ((УСМ – Универсального стартового модуля УСМ). Modul điều khiển tác chiến Moby (МоБУ-Модуля боевого управления ) và modul cung cấp năng lượng hỗ chợ (МЭЖ-Модуля энергопитания и жизнеобеспечения ).

Mời các bạn xem Clip về Tổ hợp vũ khí tên lửa Container “Klub-K”.

http://rutube.ru/tracks/3182979.html?v=8a3020e6c5243bfb80a1ae705a10b1fd

Tổ hợp vũ khí tên lửa “Club-K” không chỉ cho phép phóng đi từ các tầu nổi mà còn có thể phóng đi từ xe kéo container hoặc từ 1 toa xe lửa trên đường sắt. Nó nguy hiểm ở chỗ nó được ngụy trang rất khéo trong 1 container hàng hóa ( Toàn bộ tổ hợp). Các chuyên gia quân sự lo ngại rằng hệ thống tên lửa “Club-K” có thể làm thay đổi cán cân quân sự toàn cầu.

Tổ hợp tên lửa “Club-K” được bố trí ngụy trang gói gọn trong 1 container, nhìn bề ngoài nó như 1 container hàng hóa, nó có thể được ngụy trang và vận tải bằng tầu vận tải, đường sắt, xe chở container tới gần vùng chiến sự và bất ngờ tấn công các mục tiêu. Với cự li tác chiến áp sát mục tiêu tối đa, tên lửa có tốc độ siêu thanh thì không có 1 hệ thống tên lửa đánh chặn nào trên thế giới có thể trở tay kịp. Điều này gây sự hoảng sợ trong giới chuyên gia quân sự phương Tây, nó làm thay đổi hoàn toàn các qui tắc chiến tranh hiện đại.

Theo «The Daily Telegraph» lập luận rằng giả sử năm 2003 Irak có tổ hợp tên lửa “Club-K” thì việc Mỹ phong tỏa vịnh Ba tư là không thể, các tầu chiến Mỹ sẽ không có cơ hội để phóng Tomahoks.

Các chuyên gia quân sự Lầu năm góc còn lo ngại Nga cung cấp hệ thống tên lửa ” Club-K” cho các nước đe dọa tấn công  Mỹ như : Iran, Venezuela v.v.. Theo các nhà phân tích thì có thể gây bất ổn trên thế giới.

Các biến thể của tổ hợp tên lửa “Club” là :“Club-S” , “Club-M”,  ”Club-N” và “Club-K”.

Sơ lược lịch sử phát triển tổ hợp tên lửa ” Club” và các biến thể của tổ hợp này.

Tổ hợp tên lửa “Club” được phát triển bởi phòng thiết kế “Novator” Tp:Ekaterinburg (ОКБ «Новатор» г. Екатеринбург).

Thử nghiệm đầu tiên tổ hợp  tên lửa “Club” là tên lửa chống hạm PKR (ПКР) trên tầu ngầm nguyên tử tại hạm đội Biển bắc vào tháng 3/2000. Lần thử nghiệm thứ 2 diễn ra vào tháng 6/2000 trên tầu ngầm động cơ Diezel đề án 877 tại hạm đội Baltic. Cả 2 lần phóng đều thành công, tên lửa bắn trúng mục tiêu giả định.

Nền tảng cơ bản để phát triển tên lửa sử dụng trong tổ hợp tên lửa “Club” là tên lửa “Alpha” lần đầu tiên được đưa ra giới thiệu tại hội chợ triển lãm vũ khí năm 1993 “Абу-Даби” và hội chợ triển lãm vũ khí cùng năm “Maks-93″.

Chủng loại tên lửa “Club” đầu tiên được phát triển là tên lửa chống hạm đặt trên tầu nổi và tầu ngầm. Tổ hợp tên lửa ” Club” bao gồm các phương tiện tác chiến ( Tên lửa với các nhiệm vụ khác nhau, hệ thống điều khiển đa năng, hệ thống phóng). Hàng loạt các thiết bị đa năng trên mặt đất hỗ trợ kỹ thuật.

Hệ thống tên lửa “Club” được chuẩn hóa giữa chúng với nhau, tùy thuộc vào từng nhiệm vụ và địa bàn tác chiến mà chúng có 1 số khác biệt nhỏ.

Tên lửa chống hạm có cánh 3M-54E sử dụng trong tổ hợp tên lửa “Club-S” được lắp đặt trên tầu ngầm với nhiệm vụ tiêu diệt các tầu mặt nước với mọi chủng loại :( Tuần dương, khu trục, tầu đổ bộ, tầu vận tải, tầu nhỏ mang tên lửa) đơn lẻ. Hoặc nhóm tầu trong điều kiện chúng được trang bị tối tân với các rada định vị, cảnh báo sớm với các tổ hợp tên lửa đánh chặn.

Đầu rada dẫn đường tự tìm mục tiêu được lắp đặt trên tên lửa là ARGS-54 (АРГС-54 активная радиолокационная головка самонаведения). ARGS-54 được phát triển bởi Cty cổ phần đại chúng “Rada-MMS” đặt tại thành phố ST-petersburg. Tầm hoạt động tối đa 60km, ARGS-54 có kích thước: Dài 70cm, đường kính 42cm, trọng lượng 40kg. ARGS-54 có khả năng kháng nhiễu cao, có thể hoạt động tốt trong điều kiện trên biển có sóng cấp 5 hoặc 6. Hệ thống phóng với máy gia tốc tự tách, tên lửa bay thấp từ tốc độ cận siêu âm, tới gần mục tiêu đầu đạn tự tách với thân, xâm nhập mục tiêu với tốc độ siêu âm.

Tên lửa sử dụng trong tổ hợp tên lửa “Club-N” lắp đặt trên tầu nổi là 3M-54TE được bố trí trong các container có thể phóng đi bằng phương thẳng đứng, hoặc phóng nghiêng. Tổ hợp tên lửa “Club-N” cũng có thể sử dụng tên lửa 3M-54TE1 có chức năng phóng tương tự như tên lửa 3M-54TE.

Tên lửa 3M-54E là tên lửa 2 tầng được sử dụng trong tổ hợp tên lửa “Club-S”. Tên lửa 3M-54E nếu được lắp trên tầu ngầm với cùng 1 nhiệm vụ như trên tầu nổi nhưng được thiết kế ngắn hơn ( dài 6,2m). Tên lửa 3M-54E lắp trên tầu ngầm có trọng lượng đầu đạn tác chiến tăng 2 lần và tầm bắn tăng 1,4 lần. Loại tên lửa này thích hợp cho việc trang bị trên tầu ngầm và các tầu nổi có trọng tải nhỏ.

Một số đặc điểm của các loại tên lửa được sử dụng trong tổ hợp tên lửa “Club”:

-91RE1 là loại tên lửa chống ngầm có điều khiển ( Đôi khi người ta còn gọi 91RE1 là tên lửa đạn đạo tầm ngắn). 91RE1 với nhiệm vụ chống lại các tầu ngầm của đối phương, phần đầu đạn tác chiến của tên lửa 91RE1 có tốc độ rất cao chống lại ngư lôi của tầu ngầm (МПТ-1УМЭ) hoặc tên lửa trang bị trên tầu ngầm như (АПР-3МЭ).Tên lửa 91RE1 được trang bị hệ thống rada thủy âm tự dẫn đường, được sử dụng trong tổ hợp tên lửa ” Club-S”. tên lửa 91RE1 có thể được phóng đi từ máy phóng thủy lôi đường kính 533mm, với chiều dài 8m. Tên lửa có thể được phóng đi khi tầu ngầm đang di chuyển dưới nước với tốc độ 12 knots. Động cơ của tên lửa 91RE1 sử dụng nhiên liệu rắn.

-91RE2 là Tên lửa chống hạm được đặt trên tầu ngầm sử dụng trong tổ hợp tên lửa ” Club-N”. Tên lửa 91RE2 được phân biệt với tên lửa 91RE1 bởi kích cỡ và chức năng phóng. Tên lửa 91RE2 có thể được phóng đi từ ống phóng thủy lôi trên tầu ngầm TPK (ТПК-торпедный (снарядный) корпусный перфоратор) từ thiết bị phóng thẳng đứng (УВП-установка вертикального пуска) hoặc từ thiết bị phóng nghiêng (наклонных ПУ -пусковая установка).

-3M-14E là tên lửa 2 tầng có cánh được chế tạo để tiêu diệt các mục tiêu trên đất, nó có thể được phóng đi từ tầu ngầm( 3M-14E) hoặc tầu nổi(3M-14TE).

-3M-54E1 là tên lửa được chế tạo để tiêu diệt các mục tiêu trên mặt đất, trên biển được sử dụng trong tổ hợp tên lửa Container ” Club-K”. 3M-54E1 có cấu hình khí động học, hiệu xuất tổng thể và động cơ đẩy sử dụng nhiên liệu rắn tương tự như tên lửa chiến lược PK-55″Granit”. Chúng chỉ khác nhau ở tầm bắn(PK-55″Granit” có tầm bắn 3000km). Ngoài ra tổ hợp tên lửa ” Club-K” còn có thể sử dụng tên lửa  3M-54E hoặc 3M-14E.

-3M-14KE và 3M-54KE là hai loại tên lửa được chế tạo để tiêu diệt các mục tiêu trên đất liền cũng như trên biển. Chúng được sử dụng trong tổ hợp tên lửa ” Club-M”. Đây là tổ hợp tên lửa được đặt ven bờ  hoặc trên tầu nổi, rada của tổ hợp có thể phát hiện mục tiêu ở cự li 250km(chủ động) và 450km(thụ  động).Tầm bắn của tên lửa 3M-14KE và 3M-54KE là 220km(phóng từ tầu) và 275km(phóng từ đất liền).
Tổ hợp tên lửa “Club-M” bao gồm 1 bệ phóng tự hành với tên lửa để tiêu diệt mục tiêu trên đất liền hoặc trên biển.Xe thông tin điều khiển, xe kỹ thuật phục vụ. Tổ hợp tên lửa “Club-M” lần đầu được đưa ra giới thiệu tai triển lãm vũ khí MAKS-2007.

Thông số kỹ thuật các loại tên lửa chính sử dụng trong tổ hợp tên lửa  ”Club”:

-Tên lửa             3M-54E           3M-54E1         3M-14E          91RE1       91RE2

-Dài (m)           8,22             6,2                  6,2                    8                     6,5

-Đường kính(m)      0,533      0,533                   0,533              0,533                0,533

-Trọng lượng(kg)   2300               1780               1780                  2050              1300
(trước lúc phóng)
-Tầm bắn(Km)      220                 300                 300                    50                   40
-Đầu đạn(kg)      200                   400              400                   76                         76

-Tốc độ của tên lửa phụ thuộc vào chế độ bay, tốc độ cận âm (mach) thấp nhất : 0,6-0,8.
-Tốc độ siêu âm lớn nhất (mach) :2,9.
-Tốc độ giai đoạn đầu cuối tên lửa 3M-54E1 :2,5M.
-Tốc độ đầu cuối của tên lửa 3M-14E : 2,5M.
-Tốc độ đầu cuối của tên lửa 91RE1 : 2M.
-Tốc độ đạn đạo của tên lửa 91RE2 : 2M.
-Độ sâu lúc phóng 91RE1 và 91RE2 là: 20-150m.
-Tầm bắn 91RE1 là: 5-50km ( nếu tên lửa được phóng từ độ  sâu 20-50m)
-Tầm bắn 91RE2 là: 40km ( nếu được phóng ở độ sâu 5-35km).

Tất cả các thông số kỹ thuật trên chỉ đúng với tổ hợp tên lửa “Club” xuất khẩu.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ TÊN LỬA  SỬ DỤNG TRONG TỔ HỢP TÊN LỬA “CLUB”.

Tổ hợp tên lửa ” Club-M”.

Tên lửa 3M-54E/3M-54E1.

Tên lửa 3M-14E.

Tên lửa 91RE1.

Tên lửa 91RE2.

TỔ HỢP TÊN LỬA CHỐNG HẠM BỜ BIỂN 4К51 «Giới hạn» 1987: Береговой противокорабельный комплекс 4К51 «Рубеж» 1987.

Cuối những năm 60 của thế kỷ trước trang bị trong lực lượng hải quân Liên Xô Tên lửa- Pháo bờ biển không nhiều. Hệ thống tên lửa có khả năng cơ động là tổ hợp tên lửa “Redut”, đây là tên lửa tầm xa, hạng nặng với 1 đầu đạn có sức công phá lớn. Tên lửa “Redut” với bệ phóng đơn bố trí 1 tên lửa. Để nâng cao khả năng phòng thủ bờ biển , lực lượng Hải quân Xô Viết cần trang bị những tên lửa có tính cơ động cao, không cồng kềnh , tầm bắn không cần quá lớn và điều đặc biệt là tên lửa thế hệ mới cần đáp ứng các tiêu trí : Có tốc độ siêu thanh, với hệ thống dẫn đường tìm diệt mục tiêu, có khả năng mang đầu đạn thông thường hoặc hạt nhân.


Tên lửa “Giới hạn” được phát triển tại phòng thiết kế chế tạo động cơ ” Cầu vồng” (МКБ-моторостроительное конструкторское бюро «Радуга»)  vào những năm 70 của thế kỷ trước. Tên lửa được lựa trọn cho tổ hợp “Giới hạn” là P-15M ” Termit” (П-15М «Термит» ).Đây là tên lửa được phát triển từ tên lửa P-15 (П-15). Bệ phóng của tổ hợp tên lửa “Giới hạn” không cồng kềnh như tên lửa “Redut” trước đó. Tổ hợp tên lửa “Giới hạn” gồn 2 tên lửa đựng trong 1 container KT-161, cabin điều khiển và rada dẫn đường “Garpun”- «Гарпун» . Tổ hợp tên lửa “Giới hạn” được lắp trên khung gầm xe МАЗ-543.

Lãnh đạo phòng thiết kế chế tạo động cơ ” Cầu vồng ” là А.М. Крылов, Ю.А. Афанасьев, В.Н. Баранников. В . Các cộng sự : В.И. Утробин, В.М. Егоров, Б.И. Комиссаров, П.А. Лось, М.В. Грязнов và nhiều người khác.

Tổ hợp tên lửa ” Giới hạn” với tên lửa cải tiến “Termit-P” , được cải tiến nâng cấp từ tên lửa “Termit” P-15U nhưng có tầm bắn xa hơn. Đây là tên lửa được tiếp nhận và trang bị cho Hải quân Liên Xô 22/10/1978. Giữa những năm 80 của thế kỷ trước tên lửa được nâng cấp lần đầu với thiết bị phóng 3P-51M(3П51М -СПУ стартовая пусковая установка). Tổ hợp được lắp trên khung gầm xe МАЗ-543М.

Tổ hợp tên lửa ” Giới hạn” được xuất khẩu rộng rãi cho nhiều nước như: Ukraina, Nam tư, Bulgari, Croatia , Cu ba , Syri , Libia , Yemen , Rumani.

Tổ hợp tên lửa ” Giới hạn” được gọi dưới ký hiệu : 4K51

Thành phần của tổ hợp tên lửa “Giới hạn”:

– Thiết bị phóng tự hành 3P51.
-Tên lửa P-15M(P-21/P-22).
– Xe МАЗ-543М.
Tổ hợp tên lửa ” Giới hạn” có thể được trang bị thêm 1 Rada giám sát tầm xa, rada 40V6 được lắp trên 1 tháp cao , đây là ra đa được trang bị trong tổ hợp tên lửa phòng không S-300P ( OT ЗРС-зенитная ракетная система С-300П).

Tên lửa P-15M(P-21/P-22) “Termit” là tên lửa có cánh gấp ( Cánh sẽ bật ra sau khi tên lửa được phóng đi). Cánh của tên lửa không dài, đuôi tên lửa hình chữ Y với bánh lái ở phần đuôi không gấp lại. Động cơ của tên lửa là động cơ hành trình-Động cơ 2 chế độ sử dụng nhiên liệu lỏng. Thiết bị phóng tên lửa gắn với phần đuôi tên lửa sử dụng nhiên liệu rắn (РДТТ- ракетный двигатель твердого топлива ). Tên lửa có hệ thống điều khiển quán tính làm việc theo hành trình bay của tên lửa với 2 phương án hoạt động:
1/ Đầu tự dẫn hồng ngoại thụ động  (Инфракрасная головка самонаведения – ИК ГСН) h 2/Đầu tự dẫn radar chủ động (Активная радиолокационная головка самонаведения – АРЛ ГСН).

tên lửa có thể mang đầu đạn thông thường nặng 513kg hoặc đầu đạn hạt nhân 15KT.

Quả tên lửa P-15M.

Tổ hợp tên lửa “Giới hạn” đặt trên khung gầm xe МАЗ-543М
Với tên lửa yakhont

a)Phóng từ máy bay .
1-Máy bay phát hiện mục tiêu   2-Máy bay phóng tên lửa   3-Tên lửa tăng tốc    4-Tên lửa bay kiểu hành trình đến mục tiêu      5-Tên lửa hạ thấp độ cao   6-Đầu tự dẫn bắt đầu phát hiện mục tiêu   7-Tên lửa bay ở quĩ đạo thấp   8- Tên lửa diệt hạm tự dẫn đến mục tiêu đã chọn
b)Phóng từ tàu :
-Máy bay chỉ thị mục tiêu     2- tàu phóng loạt tên lửa       3- Tên lửa tăng tốc và tăng độ cao     4-  Tên lửa bay hành trình    5-  Tên lửa hạ độ cao     6- đầu tự dẫn được mở ; phát hiện mục tiêu    7- Tên lửa bay ở quĩ đạo thấp   8- Tên lửa diệt hạm tự dẫn đến mục tiêu đã chọn
Với tên lửa Moskit 3M80 (3М80Е)  phóng từ máy bay
Thiết bị phóng được lắp đặt trên khung gầm bánh cao của xe MAZ-543 (Maz-543M) với cấu hình dẫn động 8X8. Carbin điều khiển với rada định vị “Garpun”. Cung cấp điện năng cho tổ hợp tên lửa 4K51″Giới hạn” là tổ hợp phát điện tuốc bin khí. Điện năng được cung cấp cho các thiết bị điện tử của trạm rada định vị, hệ thống điều khiển với kíp chiến đấu. Điện năng còn sử dụng cho motor soay container KT-161. Bên trong container chứa 2 quả tên lửa P-15M(P-21/P-22) , một quả được gắn đầu tự dẫn hồng ngoại thụ động  (Инфракрасная головка самонаведения – ИК ГСН) . Quả tên lửa còn lại được gắn đầu tự dẫn radar chủ động (Активная радиолокационная головка самонаведения – АРЛ ГСН). Thiết bị phóng có thể tự quyết định nhiệm vụ tác chiến với việc phát hiện và phá hủy mục tiêu.Cấu trúc của thiết bị phóng bao gồm:– Hệ thống điều khiển bắn với hệ thống nhận dạng “Bạn-Thù”
-Liên lạc trong nội bộ hoặc với bên ngoài  bằng vô tuyến điện với tần số được mã hóa.
-Ăng ten của rada định vị được hỗ chợ bởi máy nâng thủy lực có thể lâng ăng ten lên độ cao 7,3m. Thời gian chuẩn bị để phóng tên lửa là 5 phút tính từ thời điểm cơ động đến địa điểm tập kết.
-Container KT-161 được thiết kế mở về phía sau (Đối diện với thiết bị phóng). Ở vị trí triển khai , container chứa tên lửa có thể soay ở góc 110o ở bất kỳ hướng nào. Ở vị trí tác chiến, container sẽ hướng về phía mục tiêu, 2 nắp trên đầu tên lửa tự động mở ra. Thông số tác chiến được sự hỗ chợ của rada, máy tính với công suất mạnh , tọa độ muc tiêu được sác lập nhanh chóng. Lệnh phóng được truyền từ bảng điều khiển tới bệ phóng- Tên lửa được phóng đi.Tên lửa được phóng đi bởi động cơ sử dụng nhiên liệu rắn, có sự hỗ chợ của máy gia tốc để đạt tốc độ cần thiết. Sau khi tên lửa rời khỏi container tên lửa bay vào quỹ đạo,tên lửa lúc này sẽ sử dụng động cơ nhiên liệu nỏng. Cánh tên lửa sẽ tự mở , khi đạt tới độ cao và tốc độ cần thiết phần động cơ phóng sẽ tự cắt. Hệ thống điều khiển quán tính sẽ duy trì tốc độ , độ cao và hướng bay cho tên lửa. Khi bay tới gần mục tiêu , đầu dẫn sẽ tự bật để nắm bắt mục tiêu(ГСН-головка самонаведения). Trước khi lao vào mục tiêu tên lửa có hành trình ” Quả đồi” để phá hủy mục tiêu từ trên xuống. Đầu đạn tên lửa P-15M(P-21/P-22) là đầu đạn nổ phân mảnh, vụ nổ sẽ phá hủy toàn bộ cấu trúc bên trong mục tiêu( прорыва ПВО- полное внутреннее отражение ).
Việc nạp tên lửa tiếp theo vào bệ phóng được chợ giúp bởi cần cẩu, được lắp đặt để đưa tên lửa vào container.
Thành phần của tổ hợp tên lửa 4K-51 “Giới hạn” gồm 4 thiết bị phóng và 4 máy móc phương tiện nạp tên lửa. Tổng cộng có 16 tên lửa trong 1 tổ hợp tên lửa 4K-51 “Giới hạn”.Ưu điểm của  tổ hợp tên lửa 4K-51 “Giới hạn” :
Các thiết bị trong tổ hợp có sự chuẩn hóa cao, hệ thống rada có khả năng tự phát hiện mục tiêu, tự tính toán sác định phần tử nhanh. Tên lửa được dẫn đường bởi đầu dẫn hồng ngoại thụ động và đầu dẫn chủ động. Công suất phá hủy mục tiêu của đầu đạn rất lớn. tên lửa có thể phóng loạt 2 quả tên lửa từ 1 thiết bị phóng, hoặc cùng lúc nhiều tên lửa từ một vài thiết bị phóng .

Nhược điểm của tên lửa P-15M(P21/P-22) trong tổ hợp 4K-51 “Giới hạn”:

Tên lửa to, trọng lượng lớn tốc độ không cao.
Tên lửa sử dụng động cơ nhiên liệu nỏng lên thời gian bảo quản ngắn, phức tạp.
Trọng lượng toàn bộ của tổ hợp lên tới 40T.

Tổ hợp tên lửa 4K-51 “Giới hạn” với xe Maz- 543( Maz-543M) , container KT-161 , 2 tên lửa P-15M(P-21/P-22) với rada định vị “Garpun”.

Tên lửa P-15M được phóng đi.

Thông số kỹ thuật tổ hợp tên lửa :4К51 «Giới hạn»:

-Ký hiệu tổ hợp tên lửa:   4К51 «Рубеж».
-Tên lửa sử dụng trong tổ hợp “Giới hạn”:   P-15М, P-21/ P-22 («Теrмiт»)
-Tầm bắn :   8–80km.
-Trần bay trong hành trình của tên lửa (pha đầu,pha giữa,pha cuối):   25 / 50 / 250m.
-Tốc độ tên lửa:   1100Km/h (М=0,9)
-Tầm phát hiện mục tiêu:   40km.
-Tầm phát hiện mục tiêu ( chế độ không bị che khuất) : Trên 100km.
-Chiều dài tên lửa:   6,565 m (7,5)
-Sải cánh:   2,5m.
-Đường kính tối đa quả tên lửa:   0,78m.
-Trọng lượng tên lửa trước lúc phóng:   2 523kg.
-Dầu đạn : Nổ phân mảnh.

-Trọng lượng đầu đạn:    513kg
+Tên lửa khi phóng ở góc nghiêng.
+Điều khiển bánh lái tên lửa bằng khí động học.
+Hệ thống dẫn đường:   Đầu tự dẫn tia hồng ngoại thụ động , đầu dẫn chủ động “Snegir-M”.
-Tầm phát hiện ,nắm bắt mục tiêu của đầu dẫn tia hồng ngoại thụ động:    10–20km.
+Động cơ tên lửa sử dụng nhiên liệu nỏng.
-Nhiên liệu   ТG-2 («тонка») + Acid Nitric.
-Lực đẩy :   1217 / 515kgf.
+Động cơ phóng tên lửa sử dụng nhiên liệu rắn
-Lực phóng:   29000kgf.
-Tầm hoạt động rada định vị với góc:   360o.
-Thiết bị vận tải:   МАЗ-543 (МАЗ-543М).
-Cấu hình dẫn động:   8 х 8.
-Trọng lượng tổ hợp:   40.000–40.900kg.
-Chiều dài của tổ hợp khi cơ động tác chiến:   14,2m.
-Chiều rộng của tổ hợp khi cơ động tác chiến:2,97m.
-Chiều cao của tổ hợp khi cơ động tác chiến:   4,05m.
+Động cơ xe MAZ-543(Maz-534M): Diezel.
-Công suất máy:   385kw.
-Tốc độ tối đa:   60–65km/h.
-Phạm vi hoạt động:   625–635km.
-Kíp chiến đấu:   6 người.
-Số lượng tên lửa trên bệ phóng:   2
-Chủng loại container chứa tên lửa:   КТ-161
-Chiều dài container: 7,0m.
-Chiều rộng container:    1,8m.

TỔ HỢP TÊN LỬA CHỐNG HẠM CÓ CÁNH Х-41 / П-270 «Москит» (3М-80).

Tổ hợp tên lửa chống hạm siêu thanh “Moskit” với tên lửa có cánh 3M-80(3M-80M) được phát triển bởi viện thiết kế “Cầu vồng” trong năm 1973. Lãnh đạo viện, tổng công trình sư И.С.Селезнева. Hoàn thiện hệ thống dẫn đường trên tên lửa 3M-80 là “Бе-12″.
Tên lửa 3M-80 là tên lửa siêu thanh có trần bay thấp trên mặt biển. Nó thuộc lớp tên lửa chống hạm dự định thay thế tên lửa hạng nhẹ KR-P-15.“Moskit” là tổ hợp tên lửa chống hạm duy nhất trên thế giới có tốc độ siêu âm trên 2M nhưng lại có trần bay rất thấp. Đã có hơn 30 phát minh, sáng chế cùng các công trình khoa học được áp dụng vào tổ hợp tên lửa “Moskit”. Ví dụ như tổ hợp tên lửa “Moskit” lần đầu tiên được lắp Động cơ phản lực dòng thẳng (Прямоточный воздушно-реактивный двигатель – ПВРД) kết hợp với bệ phóng lom tựa như búp bê lật đật (Một loại búp bê có thể làm bằng gỗ, nhựa có độ thăng bằng cao nhờ 1 viên bi  ở đáy hình cầu của búp bê-Tiếng Nga gọi loại búp bê này là :”матрешкa”).Hệ thống điều khiển tên lửa lửa được phát triển bởi Liên hiệp nghiên cứu-Chế tạo Quốc gia ” Altair” (ГосНПО «Альтаир»-государственное научно-производственное объединение), dưới sự lãnh đạo của С.Климов. Để hoàn thiện tổ hợp, tên lửa đã được tiến hành thử nhiệm tại căn cứ “Бе-12″.Ban đầu với phương án trang bị “Moskit” trên tầu nổi ,như tầu khu trục, tầu mang tên lửa. Năm 1984 tổ hợp tên lửa “Moskit” được tiếp nhận trang bị cho khu trục lớp “Hiện đại” đề án 956 (Современный» (проект 956). Trên khu trục dự án 956 được lắp đặt 2 tổ hợp phóng KT-190. Đề án trang bị tên lửa 3M-80 trên máy bay bị kéo dài , phải tới giữa năm 1992 và 1994 mới thực hiện được ( Tại thành phố  Комpоnоvка ).
Tên lửa có cánh 3M-80 sử dụng trong tổ hợp tên lửa “Moskit” được chế tạo để tiêu diệt các tầu chiến, tầu vận tải, tầu hộ vệ có lượng choán nước đến 20.000t .Hoặc các nhóm tầu tấn công, tầu đổ bộ, trong điều kiện có sự đối phó của các thiệt bị điện tử , ra da định vị hoặc ra da cảnh báo sớm của đối phương. Tên lửa 3M-80 có khả năng chống lại tác hại của 1 vụ nổ hạt nhân sảy ra gần nó.
Tên lửa 3M-80 hoạt động dựa trên nguyên lý khí động học sơ đồ (X) phân bổ khí động lực trên bề mặt tên lửa. Động cơ hỗn hợp 2 chế độ với  động cơ phản lực dòng thẳng (Прямоточный воздушно-реактивный двигатель – ПВРД) đây là động cơ phản lực không khí sử dụng nhiên liệu rắn và Động lực đẩy tên lửa (Thay máy gia tốc) khi  xuất phát  bằng thuốc súng. Tên lửa sau 3-4 giây được phóng đi, thuốc súng sẽ qua vòi phun bởi luồng không khí lùa vào buồng đốt và bị đốt cháy- Đây chính là quá trình gia tốc cho tên lửa để đạt tốc độ siêu thanh . Động cơ phản lực dòng thẳng (Прямоточный воздушно-реактивный двигатель – ПВРД) được phát triển bởi phòng thiết kế 670 (ОКБ-отдельное конструкторское бюро 670), lãnh đạo phòng là М.М.Бондарюк. Động cơ sau đó được chuyển cho phòng thiết kế chế tạo động cơ ” Liên minh”để hoàn thiện (МКБ-моторостроительное конструкторское бюро) .
Hệ thống điều khiển tên lửa với đầu dẫn quán tính, rada dẫn đường chủ động và bị động cung cấp khả năng bắn chúng mục tiêu cao trong điều kiện có sự đối phó của ra da đối phương. Với các mục tiêu là các tầu nhỏ, các nhóm tầu tấn công sác xuất trúng đích là 0,99. Với tầu hộ tống, tầu đổ bộ là 0,94. Sau khi tên lửa dời bệ phóng nó bay theo hình “quả đồi” sau đó hạ thấp độ cao đến 20m. Trước khi đến gần mục tiêu, trần bay của tên lửa chỉ còn 5-7m ( Trên ngọn sóng).

1/Hệ thống dẫn đường chủ động-Thụ động , 2/Hệ thống dẫn đường định vị, 3/Đầu đạn ,4/ Ống phun , 5/ Điều khiển dẫn động , 6/ Động cơ phản lực nhiên liệu rắn , 7/ Bin , 8/ Rada đo độ cao.


Sơ đồ tác chiến tên lửa 3M-80.
Từ tên xuống dưới:
Tốc độ xuất phát của tên lửa 200-470m/s
Tốc độ tối đa: 3M.
Tốc độ : 2,5M.
Trần bay :5-15m.
Tầm bắn 150km.
Tầm bắn 250km.

Quả tên lửa 3M-80.

Tránh khỏi tên lửa 3M-80 “Moskit” là điều không thể, kẻ thù chỉ có thể phát hiện thấy tên lửa 3-4s trước khi nó lao vào tầu. Tên lửa 3M-80 mang 1 động năng rất lớn , nó có khả năng xuyên thủng bất kể 1 lớp tầu nào và gây lên 1 vụ nổ từ bên trong. Đây là đòn tấn công nhấn chìm không những các lớp tầu chiến tầm trung mà còn cả những tuần dương nữa. Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự trong nước (Nga) và nước ngoài tên lửa 3M-80 “Moskit” là tên lửa chống hạm tốt nhất trên thế giới. Ngoài lớp khu trục đề án 956 và tầu chống ngầm cỡ lớn ” Đô đốc Chabanenko” đề án 11551 (БПК пр. 11551 «Адмирал Чабаненко”  БПК-   большой противолодочный корабль). tên lửa 3M-80 “Moskit” còn được trang bị trên tầu mang tên lửa trong đề án 12411. Trong đề án này 3M-80 “Moskit” được lắp ở giữa tầu 2 hệ thống phóng KT 152M. Rất ít tên lửa 3M-80 “Moskit” được trang bị trên thủy phi cơ trong đề án 1239. Tên lửa 3M-80 “Moskit” còn được trang bị trên máy bay Hải quân để bảo vệ bờ biển.Biến thể của tên lửa 3M-80 là tên lửa 3M-80M với tầm bắn xa hơn được phóng thử từ máy bay của hãng hàng không “Арсеньевской авиационной компании «Прогресс» им. Н.И.Сазыкина”.Tổ hợp tên lửa 3M-80 “Moskit” không ít lần được chưng bầy tại hội chợ triển lãm vũ khí tại Chile , ab- Dhabi(UEA) và hội chợ triển lãm MAX ( Ngoại ô Moscow).Tổ hợp tên lửa 3M-80 “Moskit” được chính thức xuất khẩu sang TQ trang bị tổ hợp hoàn thiện trên khu trục.
Tên lửa 3M-80-X41 là tên lửa được trang bị trên máy bay, đây là tên lửa “không- Đối hạm” được thiết kế cho các máy bay tiêm kích như SU-33(SU-27K) hoặc trên máy bay ném bom SU-32KHN( CУ-32ХН) hoặc cho các máy bay có khả năng cất hạ cánh trên các tầu sân bay SU-27K(SU-33). Tên lửa  3M-80-X41 được cheo dưới thân dưới động cơ máy bay.Tính năng kỹ thuật:

1/ Mô tả chung:

-Nhà phát triển: Viện thiết kế chế tạo động cơ “Cầu vồng” (МКБ «Радуга»)
-Nhà sản xuất:    Nhà máy “Tiến bộ” Thành phố Arsenev (г.Арсеньев)
-Tên gọi:    «Моsкiт» (3М-80)
-Mã hiệu:   П-270 «Москит»    Х-41
+Tên gọi của NATO :   SSN-22 «Sunburn»
+Loại đầu dẫn Quán tính+ Rada định vị chủ động-Thụ động

2/ Cấu hình , trọng lượng tính năng kỹ thuật:

-Chiều dài:   9,385m.
-Sải cánh:   2,1m.
-Đường kính:    0,76m.
-Đường kính tên lửa với cấu hợp cánh:    1,3m.
-Thời gian bảo quản trạng thái chiến đấu:   1,5 năm.
-Trọng lượng phóng:   (3М-80 )   3950kg.
(3М-80Е)    4150-4500kg.

-Đầu đạn:   300 (320)kg.
-Trọng lượng hỗn hợp nổ:   150kg

3/ Thiết bị động năng:

-Nhà phát triển : Phòng thiết kế chế tạo động cơ “Liên minh” thành phố:Turaevo (МКБ “Союз” г.Тураево)
-Động cơ phản lực không khí dòng thẳng: 3D83 (3Д83).
-Tốc độ phóng:    1.8-2.5M.
-Thời gian phóng:    0.5s
-Thời gian chuẩn bị phóng:   250s.

4/ Thông số bay:

-Tốc độ trung bình:    2,35M
-Tốc độ tối đa:   2,8M.
-Tầm bắn :    (3М-80)    10-90km hoặc   250km.
(3М-80Е )   120 hoặc 250km.
-Trần bay:    7-20m.
-Tốc độ phóng:        200-470m/s.
-Trần phóng: 12km.
-Góc ngoặt :   +/- 60 o.
-Nhiệt độ ứng dụng:   +/-60.
-Thời gian phóng loạt 4 quả :   15s.
-Nhịp độ phóng giữa các loạt:    5s.

TỔ HỢP TÊN LỬA CHỐNG HẠM CÓ CÁNH URAN-E (X-35)

à tổ hợp tên lửa chiến thuật sử dụng tên lửa X-35 với nhiệm vụ phá hủy mục tiêu là các tầu nổi có độ choán nước lên đến 5000t.
Tổ hợp tê lửa Uran-E được quyết định nghiên cứu phát triển bởi hội đồng Bộ trưởng cùng Ủy ban T.W đảng Cộng sản Liên Xô ngày 16/04/1984. Với sự kết hợp của nhiều cơ quan nghiên cứu, nhiều xí nghiệp quốc phòng. Đứng đầu là phòng thiết kế “Kaliningrad” và nhà máy chế tạo máy ” Strela” .Ngày nay là Cty cổ phần đại chúng OAO ” Tập đoàn sản xuất tên lửa chiến thuật) đứng đầu là Г.И. Хохлов. Một trong những lý do lúc đó khiến Chính phủ Liên Xô quyết định nghiên cứu chế tạo tổ hợp tên lửa chiến thuật Uran-E là cuộc sung đột quân sự (1982) giữa Anh và Argentina trong việc tranh chấp quần đảo Falkland(Mavinas) với việc sử dụng tên lửa chống hạm.Theo quyết định của chính phủ Liên Xô 16/3/1983 thì ban đầu tên lửa X-35 được phát triển để trang bị trên các tầu nổi trọng tải trung bình.
Tầm bắn của tên lửa phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cũng như kỹ-Chiến thuật. Ở cự li 130km tên lửa cần bắn trúng mục tiêu trong điều kiện đối phương có sự bảo vệ bởi các vũ khí cùng trang bị phòng không. Tên lửa khi tới gần mục tiêu cần có trần bay 3-5m trên ngọn sóng và có thể hoạt động tốt trong điều kiện trên biển có sóng cấp 6. Việc chế tạo tên lửa được áp dụng những kỹ thuật tiên tiến nhất bao gồm cả công nghệ kỹ thuật số. Thời gian chuẩn bị cho tổ hợp tên lửa ra đời được sác định là 1986 , trước đó (1983) đề án về tổ hợp tên lửa Uran-E đã được bảo vệ thành công . Tuy nhiên trên nguyên tắc cần trang bị cho tên lửa 1 đầu dẫn mới, đầu dẫn được chấp thuận lắp đặt trên tên lửa X-35 do Cty cổ phần đại chúng OAO “Radar-MMS” tại ST-Perstebyrg phát triển. Các cuộc thử nhiệm cho tên lửa giai đoạn 1 được tiến hành và kéo dài đến tận năm 1992.(Giai đoạn 2 thử nhiệm thiết kế-Bay cho tên lửa , 3 loạt tên lửa được phóng từ thiết bị phóng đặt trên bờ không thành công). Giai đoạn thử nhiệm thứ 2 cho tên lửa được kéo dài từ 1992-1998. Năm 2003 Ủy ban kiểm nhiệm quốc gia đã ký nhiệm thu công trình, tên lửa chiến thuật chống hạm có cánh Uran-E và đưa vào sản xuất.

Tổ hợp tên lửa  Uran-E với tên lửa có cánh X-35 được chế tạo để đánh bại các tầu có tốc độ cao, tầu ngư lôi , tầu mang tên lửa, tầu đổ bộ và tầu vận tải có lượng choán nước đến 5000t,
trong điều kiện có sự hoạt động đối phó của rada cùng hỏa lực đối phương.
Tổ hợp tên lửa Uran-E có thể được trang bị trên tầu khu trục , tầu hộ tống và tầu mang tên lửa được sản xuất tại Nga hoặc được đóng ở nước ngoài trong quá trình họ hiện đại hóa.
Tổ hợp tên lửa Uran-E làm tăng sức mạnh tấn công cho các tầu được trang bị. Trong đề án 20970 “Katran” (Viện thiết kế Hải quân lắp đặt 8 tên lửa 3M24E (X-35) với 2 thiết bị phóng) thì sức mạnh tấn công của đề án này tăng lên hơn 3 lần tương đương với đề án 205(205ER) . Với cơ số tên lửa 8-16 quả ở cự li giữa các bệ phóng cách nhau không lớn, tên lửa phóng đi tới mục tiêu gần như trụm vào 1 điểm và gần như 1 thời gian. Trong đề án 1241.8 tên lửa X-35 được lắp đặt 16 tên lửa với 4 hệ thống phóng. Đề án 11541 “Korsar” là đề án trang bị tổ hợp tên lửa Uran-E trên khu trục nhỏ. Trong phiên bản xuất khẩu, tổ hợp tên lửa Uran-E được cung cấp tổ hợp rada định vị 3S25E dẫn đường với chế độ chủ động và thụ động

Tổ hợp tên lửa Uran-E trang bị trên tầu với 4 hệ thống phóng 16 tên lửa X-35.

Đầu dẫn trên tên lửa X-35 được chưng bày tại triển lãm vũ khí Max 2005.

Động cơ phản lực tubor đồng  trục ТРДД-50AT (турбореактивный двигатель двухвальный)
ТРДД – Турбореактивный двухконтурный двигатель là động cơ tuốc bin phản lực 2 dòng hay còn gọi là động cơ tuốc bin phản lực luồng kép

Loại động cơ TRDD-50AT (АТ – Авиационный Тактический) được Liên hiệp chế tạo-khoa học (NPO) Saturn phát triển cho các tổ hợp tên lửa chiến thuật đường không do GosMKB Raduga thiết kế.


Trên cơ sở chuẩn hóa các loại tên lửa, dựa trên các thông số kỹ thuật của tên lửa 3M24 trang bị trên tầu nổi. Người ta đã tạo ra 1 loại tên lửa đất đối hạm là : “Bal-E” ( Бал-Э) hoặc 1 phiên bản “Bal” không đối hạm trang bị trên máy bay sử dụng tên lửa  (X-35У) , trên trục thăng là  (X-35B). Những dòng trục thăng thích hợp trang bị tên lửa “Bal” là K-27, K-28. Máy bay tiêm kích Mig 29K, Mig 29SMT , Su-30MK , Su-35 , Yak-141. Máy bay ném bom tiền duyên Su-24M, máy bay chống ngầm Tu-124M và 1 số lọai máy bay khác.

Các ưu điểm nổi bật của tổ hợp chống hạm Uran-E là:
-Trần bay thấp.
-Kích cỡ gọn nhẹ.
-Sức công phá lớn.
Một cơ số tên lửa X-35 thường là 8-16 tên lửa. Tổ hợp tên lửa Uran-E có khả năng phóng từng quả hoặc phóng loạt , thời gian phóng giữa các loạt là 3s. Tổ hợp tên lửa Uran-E có khả năng phá hủy các lớp tầu có độ choán nước đến 5000t như tầu khu trục, tầu hộ tống, tầu đổ bộ , tầu mang tên lửa.
Tổ hợp tên lửa Uran-E phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế với tiêu trí : ” Chi phí thấp-Hiệu quả, tối ưu các nhiệm vụ tác chiến trên biển”. Tổ hợp tên lửa Uran-E thích hợp là tổ hợp tên lửa chống hạm chiến thuật.

Thành phần trong tổ hợp tên lửa Uran-E:

Tên lửa X-35 được sử dụng trong tổ hợp Uran-E lần đầu được đưa ra giới thiệu tại triển lãm “Mosaeroshou-92″ tại Moscow . Tên lửa được đựng trong container mỗi tổ hợp phóng với 4 container. Hệ thống điều khiển tổ hợp tên lửa Uran-E được chuẩn hóa và tự động với các thiết bị kiểm soát tên lửa X-35 ( 3M24 , AS-X20 harpoonsky) với nhiệm vụ tiêu diệt mọi tầu nổi với cự li đến 130km cả ngày lẫn đêm , với mọi điều kiện thời tiết, với mọi tình trạng nhiễu động và  mọi hỏa lực đối phó của đối phương. Tên lửa X35 trang bị trên tầu và trên trục thăng sử dụng hệ thống khí động học với cánh gấp hình chữ thập. Cửa hút gió được bố trí ở dưới thân tên lửa. Máy gia tốc được lắp phía đuôi của tên lửa sử dụng nhiên liệu rắn.
Tên lửa được trang bị phối hợp (quán tính ở pha đầu và rada dẫn đường chủ động ở pha cuối). Hệ thống dẫn đường tới mục tiêu trên tên lửa hỗ chợ cho tên lửa đánh trúng mục tiêu trong điều kiện rada điện tử của đối phương hoạt động đối phó. Kiểm soát  tình trạng hoạt động của tên lửa trong tất cả các quá trình là hệ thống điện tử luôn hiển thị trên màn hình. Tên lửa có khả năng tự khởi động từ trạng thái “lạnh” sang trạng thái ” Phóng” không quá 60s. Trần bay của tên lửa từ 5-10m. Máy đo độ cao gắn ở đầu tên lửa luôn cung cấp độ cao chính sác. Giám sát tình trạng tên lửa, sẵn sàng khởi động , tiếp nhận sử lý rữ liệu trước khi phóng được thực hiện với hệ thống quản lý điện tử tự động.
Đầu dẫn đường chủ động ARGS-35 ( Do Cty cổ phần đại chúng OAO ” Radar-MMS” sản xuất) tự phát hiện mục tiêu là các tầu nổi. Nó tự sác định tốc độ di chuyển của mục tiêu, góc phương vị , tầm bắn , phương pháp tiếp cận mục tiêu cũng như đưa ra các thông số cần thiết cho hệ thống dẫn đường của tên lửa. Bộ “óc” của đầu dẫn ARGS-35 được làm bằng 85% vật liệu đặc biệt ( Trong suốt) có trọng lượng 2kg , với độ sai số góc tọa độ 25 phút . Nó được viện nghiên cứu vật liệu ” Công nghệ”  thành phố ” Обнинск” phát triển.
Đầu đạn của tên lửa X-35 là đầu đạn nổ phân mảnh-Cháy. Sau khi thâm nhậm mục tiêu đầu đạn trên tên lửa sẽ phát nổ, mảnh sẽ sát thương sinh lực định cùng phá hủy kết cấu tầu đối phương. Tên lửa X-35 cũng sẽ gây cháy , nổ phân mảnh và cháy mục đích là nhấn chìm tầu có trọng tải tới 5000t. Tên lửa X-35 có tốc độ cận âm với trần bay rất thấp gây khó khăn cho hệ thống phòng không, đánh chặn của đối phương.

Thiết bị phóng nằm nghiêng với góc 35o trên boong tầu , mỗi thiết bị 4 container (ống phóng) lưu giữ 4 tên lửa X-35. Thiết bị phóng cố định chắc chắn với boong tầu , bên cạnh đó còn được lắp các lò xo, ống giảm giật với độ đàn hồi cao . Người ta còn tính toán đến những khả năng có thể 1 vụ nổ sảy ra gần với thiết bị phóng thì cũng không ảnh hưởng tới nó và các tên lửa nó mang theo. Khi tên lửa X-35 được trang bị trên máy bay thì được sử dụng thiết bị phóng APU-78 hoặc AKU-58.
Container vận tải-Phóng tên lửa dưới dạng 1 ống kim loại hình trụ có nắp đóng-Mở. Ở giữa container (4 container ống phóng) có các khung thép hình chữ nhật gắn kết với nhau tạo thành 1 khối chắc chắn. Container vận tải-Phóng tên lửa X-35 có thể tái sử dụng.

Thông số kỹ thuật:

-Tầm bắn :5-130km.
-Hành trình bay/Pha cuối : 5-10/3-5m.
-Tốc độ: 300m/s.
-Góc cơ động : +90o.
-Sai số tên lửa bắn trúng mục tiêu trong vòng tròn : 4-8m.
-Trọng lượng tên lửa trước lúc phóng( kể cả máy gia tốc) : 480(680)kg.
-Trọng lượng đầu đạn: 145kg.
-Chiều dài: 3,75(4,4)m.
-Sải cánh : 0,93m.
-Tầm hoạt động của đầu dẫn: 20km.
Tên lửa có thể hoạt động tốt trong mọi nhiệt độ -50o đến +50o.

Tin tức và sự kiện về tổ hợp tên lửa Uran-E.

Tổ hợp tên lửa Uran-E được trang bị trên tầu là đề án 11540 “Can đảm”, Đề án 1166.1 “Gepard” và “Deli”. Tổ hợp tên lửa Uran-E được xuất khẩu cho Ấn độ , ALgieria và Việt Nam. Trong hợp đồng đóng tầu hộ vệ tên lửa trang bị tổ hợp tên lửa chống hạm Uran-E cho Việt nam đã khởi đóng 2 chiếc trong đề án 1241.8 “Tia chớp”. tổ hợp tên lửa đã phô diễn sức mạnh trong đợt bắn diễn tập năm 2007 trên biển Baltic. Theo kế hoạch phát triển của Hải quân Nga tới năm 2020 sẽ trang bị cho Hải quân Nga 1 loat các hải phòng hạm đa nhiệm trang bị tổ hợp tên lửa chống hạm Uran-E kết hợp với tổ hợp tên lửa chống hạm ” Termit” có trang bị thêm rada dẫn đường thế hệ mới. Hải quân Nga cũng có tham vọng đến năm 2020 số lượng hải phòng hạm đa nhiệm xuất khẩu chiếm 1/4 thị trường vũ khí thế giới. Hiện nay nhu cầu mạnh nhất là ở khu vực Đông Nam á, Mỹ Latin và khu vực vùng vịnh. Ngày nay  Nga đã xuất khẩu các khu trục trang bị tổ hợp tên lửa Uran-E .Trước tiên trên các tầu hộ tống đề án 11541 “Korsar” đề án 1166.1 “Gepard -3,9″ chúng đáp ứng được mọi đòi hỏi của 1 lớp tầu chiến hiện đại, một số đặc tính kỹ thuật còn vượt quá chuẩn mực của thế giới. Nga đang có kế hoạch nâng cấp (Đền án 1234) cho các tầu hạng nhẹ (560t)trang bị tên lửa Uran-E trong đề án 205E mà Nga trước đó đã xuất khẩu tới 22 nước với 150 tầu.

Tên lửa X-35 trang bị trên trục thăng.

Quả tên lửa X-35E.

Ảnh : Thực hành phóng tên lửa từ xe phóng trong tổ hợp Bal-E
Tổ hợp tên lửa bờ biển Bal-E được thiết kế để theo dõi ; giám sát các vùng lãnh hải và eo biển ; bảo vệ căn cứ hải quân ; các mục tiêu cơ sở hạ tầng ven biển ; bảo vệ bờ biển trên các hướng tấn công nguy hiểm của đối phương.Tổ hợp phát hiện và theo dõi các mục tiêu nổi trên mặt nước ; phân bổ mục tiêu (целераспределение) và tiêu diệt mục tiêu bị bám bắt bằng tên lửa chống hạm Kh-35 (xem sơ đồ).Khả năng sẵn sàng chiến đấu của tổ hợp được đảm bảo trong mọi điều kiện thời tiết ; ngày và đêm ; với sự độc lập hoàn toàn của hệ thống dẫn bắn tự động của tên lửa ; ngay cả dưới hỏa lực và các biện pháp đối kháng điện tử của đối phươngTổ hợp bao gồm

Đến 2 xe tự hành chỉ huy – kiểm soát hỏa lực – liên lạc SKPUS


Ảnh:xe tự hành chỉ huy – kiểm soát hỏa lực – liên lạc SKPUS

Xe có nhiệm vụ trinh sát ; chỉ định ; phân bổ tối ưu mục tiêu cho các xe phóng.Các kênh radar thụ động và chủ động độ chính xác cao giúp tổ hợp phát hiện mục tiêu theo các chiến thuật rất linh hoạt ; kể cả các mục tiêu mật (tàng hình)

Đến 4 xe phóng tự hành với tên lửa diệt hạm Kh-35E (3M-24E) (thông thường cơ số 8 đạn/xe)


ảnh:xe phóng tự hành trong tổ hợp Bal-E
Đến 4 xe vận chuyển – nạp đạn nhằm chuẩn bị cho loạt bắn tiếp theo.

Ảnh:xe vận chuyển – nạp đạn trong tổ hợp Bal-E
1 xe thông tin liên lạc

Cấu trúc và trang bị của tổ hợp đảm bảo tính tự động hóa và hiệu suất chiến đấu cao :Các kênh radar thụ động và tích cực được thiết kế để có thể phát hiện ; nhận diện ; phân bổ và bám bắt mục tiêu ngay trên nền nhiễu tích cực hoặc nhiễu thụ động của đối phương2 ra-đa biệt lập dùng chế độ thu thụ động để định vị mục tiêu qua phương pháp định vị tam giác

Thiết bị điều khiển phân bổ mục tiêu tối ưu giữa các xe phóng

4 xe mang phóng tự hành mang 8 đạn tên lửa trên mỗi xe cho phép kíp trắc thủ lựa chọn phương thức bắn loạt hoặc bắn kết hợp từng quả một, với uy lực tổng hợp cao.

Xe thông tin liên lạc đặc chủng tiếp nhận chỉ thị từ các sở chỉ huy cấp trên và phần tử mục tiêu từ các thiết bị trinh sát/nhận dạng mục tiêu.

Xe phóng và xe vận chuyển-nạp đạn có thể được đặt trong các vị trí cất giấu sâu trong đất liền ; cách xa bờ biển. Trong các vị trí quân sự bí mật và có các vật cản nhân tạo hoặc tự nhiên theo hướng bắn không hạn chế khả năng sẵn sàng chiến đấu của tổ hợp.Phương thức bắn có thể là phóng đơn từng quả một hoặc phóng loạt đạn tên lửa từ bất kì xe phóng nào .1 loạt phóng tối đa của tổ hợp gồm 32 tên lửa .Việc phóng tên lửa theo loạt đảm bảo đánh bại ý đồ tiến công của 1 nhóm tàu đối phương ;  nhóm tàu đổ bộ hoặc nhóm tàu hộ tống .


Ảnh:sơ đồ phóng tên lửa Kh-35 từ tổ hợp Bal-E

Các xe vận chuyển-nạp đạn giúp cho việc chuẩn bị cho loạt bắn tiếp theo chỉ kéo dài từ 30-40 phút .Hệ thống kiểm soát hỏa lực của tổ hợp truyền dữ liệu theo công nghệ số ; truyền tin tự động ; xử lý và mã hóa thông tin với mức bảo mật cao.

Tổ hợp cũng được trang bị thiết bị nhìn đêm ; thiết bị lái ; thiết bị giám sát địa hình và định vị vị trí ; giúp nó thay đổi vị trí trận địa rất nhanh sau khi hoàn thành nhiệm vụ .

Nó chỉ mất 10 phút để triển khai một trận địa mới .

Cấu hình của tổ hợp và số lượng xe chỉ huy ; xe phóng ; xe nạp đạn … phụ thuộc vào yêu cầu khách hàng.Các xe này dựa trên khung gầm xe MAZ-7930 ; tuy nhiên có thể thay thế bằng kiểu khung gầm khác để tăng tính linh hoạt và khả năng cơ động trên đường xấu.

Tổ hợp tên lửa bờ biển Bal-E có tiềm năng nâng cấp lớn.

Việc triển khai thêm các thiết bị chỉ điểm mục tiêu như máy bay trực thăng mang radar hoặc là các phương tiện bay không người lái sẽ làm tăng tầm phát hiện mục tiêu và tính chính xác của tổ hợp

Việc trang bị thêm các hệ thống gây nhiễu thụ động để tăng cường đáng kể khả năng sống sót của tổ hợp trước các vũ khí có điều khiển của đối phương trong chiến đấu .Ngoài ra cũng có các lựa chọn phụ khác .

1 hệ thống phòng thủ bờ biển tích hợp bao gồm tổ hợp tên lửa bờ biển Bal-E ; tàu tuần tra xa bờ mang tên lửa Ural-E cũng như các máy bay chiến đấu được trang bị thống nhất tên lửa diệt hạm Kh-35E (3M-24E) sẽ có khả năng thực hiện các nhiệm vụ chiến thuật đa dạng với chi phí tối thiểu ; do chỉ phải bảo trì ; sửa chữa 1 loại tên lửa duy nhất !!!

Thông số kỹ thuật cơ bản
Sưu tầm
Advertisements

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: