//
you're reading...
Phân tích- Đánh giá, Thông tin khác

Khám phá sức mạnh quân sự của Iran- Phần 1

Năm 2006, trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế (CSIS) của Mỹ đã đưa ra bản đánh giá sức mạnh lực lượng vũ trang Iran. Tới thời điểm hiện tại, thông tin mà bản đánh giá đem lại vẫn còn nguyên giá trị.
Lực lượng vũ trang của Iran gồm Quân đội Cộng hòa Hồi giáo Iran (Islamic Republic Iran Army-IRIA) và Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (Islamic Revolutionary Guard Corps-IRGC). Có khoảng 545.000 người đang phục vụ trong thành phần các lực lượng vũ trang nước Cộng hòa Hồi giáo.
Quân đội Iran gồm ba thành phần: Lục quân Iran, Hải quân Iran và Không quân Iran.
Lục quân Iran là bộ phận lớn nhất của quân đội Iran và là lớn nhất trong khu vực vùng vịnh. Lục quân gồm 350.000 quân thường trực, tổ chức thành: 6 sư đoàn bộ binh, 4 sư đoàn thiết giáp, 1 sư đoàn lính dù, 1 sư đoàn hoạt động đặc biệt, 2 sư đoàn biệt kích, 11 tiểu đoàn pháo binh và các đơn vị độc lập khác.
Sau đây là tổ chức trang bị đơn vị tăng – thiết giáp, pháo binh và không quân thuộc lục quân:
Lực lượng xe tăng
Từ sau cuộc chiến tranh Iran-Iraq, chính quyền Iran tiến hành tái xây dựng các đơn vị tăng thiết giáp tuy nhiên vẫn bị đánh giá là có quy mô nhỏ hơn quân đội dưới thời vua Shah (chế độ trước năm 1979). Tính tới năm 2006, Iran có 1.613 xe tăng chiến đấu chủ lực. Cụ thể, số lượng xe tăng chiến đấu gồm 168 chiếc M-47/M-48, 150 chiếc M-60A1, 100 chiếc Chieftain Mark 3/5, 540 chiếc T-54/55/Type-59, 75 chiếc T-62, 480 chiếc T-72/T-72S (năm 2000 mới chỉ có 120 chiếc) và 100 chiếc Zulfiqar.
Xe tăng Chieftain của quân đội Iran trong duyệt binh. Xe tăng Chieftain do Anh thiết kế trang bị pháo cỡ nòng 120mm.

Trong đó, xe tăng T-72S là phiên bản xuất khẩu của T-72B do Liên Xô thiết kế chế tạo. Một số lượng nhỏ Iran tự sản xuất theo giấy phép của Nga. Tất cả T-72S đều trang bị khá hiện đại như pháo nòng trơn 2A46M 125mm, hệ thống điều khiển hỏa lực IA40-1, đo xa laze. T-72S lắp động cơ diesel V-48MS 840 mã lực, nâng cấp hệ thống treo và khả năng chống mìn. T-72 có trọng lượng chiến đấu 44,5 tấn. Theo một số nguồn thông tin khác, có thể Iran ký hợp đồng mua tới 1.000 xe tăng T-72 từ Nga.
Xe tăng chiến đấu chủ lực T-72.
Đối với xe tăng các loại T-54/55/Type-59, Iran cố gắng kéo dài thời gian phục vụ cho số xe tăng này bằng việc cải tiến thiết bị kiểm soát hỏa lực, giáp phòng vệ và lắp pháo nòng xoắn cỡ 105mm tương tự pháo trang bị trên M-60A1 của Mỹ. Iran cũng tự phát triển giáp phản ứng nổ tăng cường thêm khả năng tự bảo vệ trước vũ khí chống tăng hiện đại.

Xe tăng T-54/55 nâng cấp tăng cường lớp giáp phản ứng nổ bọc ở phần giáp trước, tháp pháo và hai bên thân xe.
Toàn bộ số xe tăng M-47 được quân đội Mỹ chuyển giao linh kiện thực hiện lắp ráp tại Iran trước khi cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran nổ ra (năm 1979). Trong giai đoạn 1970-1972, toàn bộ số xe M-47 được nâng cấp lên phiên bản M-47M. Phiên bản này lắp nhiều bộ phận từ xe tăng thế hệ thứ hai M-60A1 bao gồm: động cơ, hộp số tự động, hệ thống treo, thiết bị kiểm soát hỏa lực.
Ngoài ra, Iran tự phát triển thành công xe tăng chiến đấu chủ lực Zulfiqar mang đặc điểm của hai loại tăng T-72 và M-60. Theo một số nguồn thông tin thì Zulfiar trang bị động cơ diesel V-46-6-12 V-12 780 mã lực và hộp số tự động SPAT 1200 cho phép đạt tốc độ tối đa 65 km/giờ.
Xe tăng chiến đấu chủ lực Zulfiqar là “con lai” giữa hai dòng xe T-72 và M-60.
Xe lắp pháo nòng trơn 125mm, súng máy phòng không 12,7mm và súng máy đồng trục 7,62mm. Zulfiqar sử dụng thiết bị kiểm soát hỏa lực Fontana EFCS-3 của Slovenia cung cấp khả năng ổn định để tấn công mục tiêu ngay cả khi xe đang di chuyển. Về khả năng phòng vệ, ngoài lớp giáp chính xe lắp thêm giáp phản ứng nổ, thiết bị laze cảnh báo sớm chống hỏa tiễn. Iran hiện có khoảng 100 xe tăng Zulfiqar.
Lực lượng thiết giáp
Lục quân Iran biên chế khoảng 1.000-1.360 xe chiến đấu bộ binh và xe thiết giáp. Các loại xe có xuất xứ từ Anh, Nga, Mỹ, Brazil và khá đa dạng về chủng loại.
Trong quân đội Iran xuất hiện 70-80 xe tăng Scorpion do Anh sản xuất. Đây có thể là số xe nhận được trước cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran 1979. Scorpion là xe tăng hạng nhẹ bánh xích trang bị một pháo 76mm. Giáp bảo vệ xe chống đạn cỡ 7,62mm và mảnh đạn pháo, riêng giáp trước có khả năng chống đạn 14,5mm bắn từ khoảng cách 200 mét. Dựa theo thiết kế Scorpion, Iran tự sản xuất xe tăng hạng nhẹ Tosan trang bị pháo cỡ 90mm. 
Xe tăng hạng nhẹ Tosan “nhái” Scorpion.
Lục quân Iran còn trang bị 210 chiếc BMP-1 và 400 chiếc BMP-2. BMP là dòng xe chiến đấu bộ binh nổi tiếng của Liên Xô thiết kế vào những năm 1960-1970. Hỏa lực của hai loại xe này vừa có tác dụng yểm trợ bộ binh và vừa chống tăng.
Cụ thể, BMP-1 vũ trang một pháo 73mm và bệ phóng tên lửa chống tăng điều khiển qua dây dẫn 9K11 (AT-3). Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự, pháo 73mm của BMP-1 có độ chính xác kém khi bắn ở khoảng cách xa nhưng bù lại AT-3 sức công phá mạnh đủ sức đe dọa xe tăng đối phương.
Xe chiến đấu bộ binh BMP-1 với tháp pháo 73mm.
BMP-2 ra đời cuối những năm 1970 với điểm cải tiến lớn nhất là hỏa lực. BMP-2 lắp một pháo cỡ 30mm có tốc độ bắn và chính xác cao hơn so với tháp pháo 73mm và tên lửa chống tăng điều khiển qua dây dẫn 9M111 (AT-4).
Xe chiến đấu bộ binh BMP-2 với tháp pháo 30mm.
BMP-1 và BMP-2 đều có giáp xe khá mỏng chỉ chống được đạn súng máy cá nhân hoặc mảnh đạn pháo. Bù lại, cả hai đều có khả năng cơ động cao với tốc độ trên 60 km/giờ (đường bằng phẳng) hoặc 45 km/giờ (đường ghồ ghề).
Bên cạnh xe thiết chiến đấu, các đơn vị lục quân Iran trang bị 200 xe thiết giáp chở quân M-113 (Mỹ) và khoảng 300 xe BTR-40/50/60 (Liên Xô). Các xe này đều bọc giáp nhẹ chống đạn súng bộ binh, có chức năng vận chuyển quân ra chiến trường và yểm trợ hỏa lực nhẹ.
Lục quân Iran sở hữu số lượng rất ít xe thiết giáp trinh sát EE-9 Cascavel (khoảng 35 chiếc) do Brazil thiết kế. EE-9 bọc giáp nhẹ 6-12mm, lắp một pháo cỡ 90mm. 
Không chỉ duy trì đội xe thiết giáp nhập khẩu từ nước ngoài, Iran tự “mổ xẻ” thiết kế xe chiến đấu bộ binh và xe thiết giáp của Mỹ và Liên Xô để cho ra đời hai mẫu xe nội địa Boragh và Cobra (BMT-2). Boragh chế tạo dựa trên phiên bản BMP-1 do Trung Quốc sao chép công nghệ của Liên Xô. Boragh có trọng lượng chiến đấu 13 tấn. Trong xe có thể chở 8-12 lính trang bị vũ khí đầy đủ.Iran tự phát triển giáp bảo vệ chống đạn xuyên giáp cỡ 30mm. Có một điểm khác so với BMP-1 là Boragh không có tháp pháo mà chỉ có một ụ súng cỡ 12,7mm tương tự kiểu ụ súng máy của xe thiết giáp M-113 do Mỹ chế tạo. 
Xe thiết giáp chiến đấu Boragh.
Ngoài ra, Iran tự phát triển một vài biến thể khác của Boragh trang bị hỏa lực tốt hơn như cối 120mm, tên lửa chống tăng Toophan hoặc AT-4.
Xe thiết giáp Cobra trang bị tháp pháo hai nòng cỡ 23mm.
Cobra (BMT-2) là xe thiết giáp chở quân bánh xích, chứa được 7 lính trang bị vũ khí đầy đủ. Hỏa lực đa dạng, có thể sử dụng pháo hai nòng 23mm hoặc pháo 30mm.
Lực lượng pháo binh
Pháo binh của lục quân Iran trang bị hàng nghìn khẩu pháo xe kéo, pháo tự hành, pháo phản lực phóng loạt và pháo cối cùng vũ khí chống tăng.
Về số lượng pháo xe kéo, Iran sở hữu 2.010 khẩu pháo đủ kích cỡ các loại, xuất xứ chủ yếu từ Liên Xô, Mỹ, Trung Quốc, Anh, Canada. Cụ thể tính tới năm 2006, Iran có: 130 pháo M-101A1 cỡ 105mm, 540 pháo D-30 cỡ 122mm, 100 pháo Type-54 cỡ 122mm, 985 pháo M-46/Type-59 cỡ 130mm, 30 pháo D-20 cỡ 152mm, 15 pháo WAC-21 cỡ 155mm, 70 pháo M-114 cỡ 155mm, 120 pháo GHN-45 cỡ 155mm và 20 pháo M-115 cỡ 203mm. Trong đây, pháo Type-59 và Type-54 do Trung Quốc sản xuất “nhái” theo mẫu pháo của Liên Xô.
Pháo xe kéo M101 cỡ 105mm của IranPháo xe kéo GHN-45 cỡ 155mm.
Bên cạnh pháo xe kéo không thể thiếu đơn vị xe pháo tự hành với khả năng cơ động tốt. Iran sở hữu số lượng ít pháo tự hành, phần nhiều được Mỹ cung cấp gồm: pháo tự hành bắn đạn trái phá M-110 cỡ 203mm (25-30 xe), M-107 cỡ 175mm (20-30 xe) và M-109 cỡ 155mm. Tuy nhiên, sau một thời gian dài sử dụng cũng đã phát sinh hỏng hóc rất nhiều, không được nâng cấp do gặp phải lệnh cấm vận vũ khí của phương tây.
Pháo tự hành “vua chiến trường” M-107 cỡ 175mm.Pháo tự hành M110 cỡ 203mm.
Các chỉ huy quân đội Iran hiểu rằng pháo binh cơ động cực kỳ quan trọng, họ đang cố gắng bù đắp sự thiếu hụt bằng việc thay thế pháo tự hành của Mỹ bằng hệ thống khác. Iran mua 60-80 pháo hành 2S1 cỡ 122mm của Liên Xô. 
Pháo tự hành nội địa Raad 1.
Đồng thời phát triển thêm hai phiên bản pháo tự hành nội địa là Raad 1 cỡ 122mm và Raad 2 cỡ 155mm. Cả hai loại pháo này đều sử dụng tháp pháo tương tự 2S1 và M-109, pháo được đặt trên khung xe thiết giáp chở quân Boragh.
Iran có một số lượng khá lớn lên tới 5.000 khẩu pháo cối các loại đủ kích cỡ từ 81mm, 82mm, 107mm và 120mm. Iran cải tiến đưa pháo cối hạng nặng (cỡ 120mm) đặt trên khung xe thiết giáp.
Xét về đơn vị pháo phản lực của Iran, thực tế khó có thể thống kê một cách chính xác số lượng thực sự hoạt động trong quân đội Iran. Tuy nhiên, vẫn có thể đưa ra con số tương đối, gồm 500-700 pháo phản lực Type-63 cỡ 107mm (12 nòng) của Trung Quốc, 100 pháo BM-21 Grad cỡ 122mm (40 nòng) của Liên Xô và BM-11 cỡ 122mm (15 nòng) của Bắc Triều Tiên.
Pháo phản lực phóng loạt Hased cỡ 107mm (12 nòng).
Iran sản xuất một số hệ thống pháo phản lực cho riêng mình, như loại Hased và Fadjr 1 cỡ 107mm (12 nòng), Hadid cỡ 122mm (40 nòng).
Bên cạnh các hệ thống phóng pháo phản lực, Iran còn tự thiết kế chế tạo rocket không điều khiển có tầm bắn xa. Điển hình là:
Rocket không điều khiển tầm xa Shahin 1 cỡ 333mm. Mỗi quả rocket lắp động cơ nhiên liệu rắn, mang đầu đạn thông thường nặng 175kg và có tầm bắn tối đa 75 km. Rocket Shahin đặt trên khung xe vận tải. Ngoài loại đầu đạn thuốc nổ thì Shahin có thể trang bị đầu đạn hóa học.
Rocket không điều khiển tầm xa Fadjr 3.
Rocket không điều khiển Fadjr 3 cỡ 240mm với 12 nòng, tầm bắn xa 43 km mang đầu đạn nặng 45kg.
Rocket không điều khiển tầm xa Fadjr 5.
Rocket không điều khiển tầm xa Fadjr 5 cỡ 333mm với tầm bắn tương đương Shahin 1.
Rocket không điều khiển Oghab cỡ 320mm có tầm bắn tối đa 34km, mang đầu đạn thuốc nổ phá mảnh nặng 70kg.
Rocket tầm xa Zelzal 2 cỡ 610mm, lắp đầu đạn thông thường nặng 600kg và có tầm bắn lên tới 210km. Rocket Zelzal cũng là mẫu rocket không điều khiển.
Xe mang phóng rocket tầm xa Nazeat.
Hệ thống rocket tầm xa Nazeat được cho là có khả năng lắp đầu đạn thông thường, hóa học hoặc sinh học. Thông tin về loại vũ khí này vẫn chưa rõ ràng, nhưng có thể dựa trên công nghệ Trung Quốc và sử dụng động cơ nhiên liệu rắn, với hệ thống dẫn đường quán tính đơn giản. Theo một số nguồn tin không chính thức, Nazeat gồm hai phiên bản: rocket cỡ 355,6mm với tầm bắn 105km mang đầu đạn 150kg và rocket cỡ 450mm với tầm bắn 150km mang đầu đạn 250kg. Theo đánh giá thì cả hai loại rocket đều có tốc độ bay tới Mach 4 nhưng có độ tin cậy và độ chính xác rất kém.
Iran tự sản xuất một số vũ khí chống tăng theo thiết kế của Liên Xô và mua thêm tên lửa chống tăng từ Nga, Trung Quốc và Ukraine.
Binh lính Iran mang vác RPG-7 trên xe mô tô.
Iran có khoảng 750 súng chống tăng RPG-7V, RPG-11 và rất nhiều tên lửa chống tăng AT-2, AT-3, AT-4 sử dụng phương thức dẫn đường qua dây dẫn.

Thảo luận

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: