//
you're reading...
Hoa Kỳ, Không Quân

Máy bay ném bom chiến lược tầm xa B1-B của quân đội Mỹ

B-1 Lancer là loại máy bay ném bom chiến lược tầm xa của quân đội Mỹ, được sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ oanh tạc tầm thấp, nhằm tránh khả năng bị các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa cơ động của đối phương tấn công.

Lịch sử phát triển

Vào đầu thập niên 80, có khoảng 100 chiếc B-1 Lancer được sản xuất, với vai trò là loại máy bay ném bom chiến lược trung gian giữa Pháo đài bay B-52 Stratofotress và máy bay ném bom hiện đại B-2.

B1-B Lancer đang được lắp bom trước khi xuất kích.
B1-B Lancer đang được lắp bom trước khi xuất kích.

 

B-1 Lancer có hai phiên bản chính là B-1A Lancer và B-1B Lancer. B-1A cất cánh lần đầu tiên vào ngày 23/12/1974, còn B-1B bay lần đầu tiên vào ngày 23/3/1983. Trước đó, khoảng giữa thập kỷ 70, quân đội Mỹ đã có 4 mẫu chế tạo thử loại máy bay ném bom hạng nặng hiện đại nhất thế giới này.

 

 

 

Ban đầu, Không quân Mỹ dự định mua hơn 200 chiếc B-1 Lancer để thay thế toàn bộ các Pháo đài bay B-52 của không quân. Mặc dù kế hoạch này đã được thông qua vào ngày 2/12/1976 nhưng chỉ một tháng sau đó, khi chính quyền của cựu Tổng thống Mỹ Carter lên nắm quyền, kế hoạch thay thế các máy bay oanh tạc của quân đội đã bị chính thức huỷ bỏ vào tháng 6/1977.

 

 

 

Trong chiến dịch tranh cử tổng thống vào năm 1980, để bào chữa cho việc huỷ bỏ chương trình thay thế máy bay ném bom B-52 bằng máy bay B-1 Lancer, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc đó là ông Harold Brown đã tuyên bố rằng, Mỹ đang bí mật nghiên cứu và phát triển một loại máy bay ném bom thế hệ mới có khả năng tàng hình (chính là phiên bản máy bay con ma B-2 Spirit hiện đại nhất hiện nay).

Tháng 1/1981, ngay sau khi lên nắm quyền tổng thống, chính quyền Reagan đã hỗ trợ chương trình phát triển máy bay B-1 Lancer bằng hành động phê chuẩn  nguồn ngân sách khổng lồ.

 

 

 

Theo chương trình cắt giảm vũ khí hạt nhân toàn diện của Mỹ, Tổng thống W.Bush đã tuyên bố tất cả các máy bay ném bom chiến lược của không quân Mỹ phải dỡ bỏ vũ khí hạt nhân lưu cất trong kho, đồng thời huỷ bỏ lệnh trực chiến 24/24 cho tất cả các phương tiện bay có trang bị vũ khí hạt nhân.

Thiết kế kỹ thuật

Phiên bản máy bay ném bom chiến lược tầm thấp B-1B Lancer có cánh dạng hình học thay đổi đặt ở giữa thân. Chốt xoay của cánh nằm gần thân có hệ số dãn dài tương đối lớn cho cánh từ góc cụp tối thiểu 15 độ đến góc cụp lớn nhất 67,5 độ.

 

 

 

Giống như một số thiết kế của các loại máy bay chiến đấu cánh cụp cánh xoè khác, các chốt xoay và kết cấu khung dầm đỡ của cánh được chế tạo bằng titan vừa tăng độ cứng và giảm trọng lượng.

Phần cánh đuôi đứng cũng được chế tạo bằng vật liệu hợp kim nhôm và titan. Hai cánh đuôi ngang có thể được điều khiển riêng rẽ khi phi công muốn điều chỉnh độ nghiêng khi cần bay liệng ở tầng thấp, nhằm đối phó linh hoạt trước khả năng tìm tên lửa của đối phương bám theo.

 

B1-A Lancer.
B1-A Lancer.

 
B1-B Lancer trang bị 4 động cơ phản lực quạt thổi của General Electric, được bố trí trong các vỏ động cơ lắp đặt dưới cánh. Các thùng dầu nhiên liệu của B-1B Lancer được bố trí ở giữa thân và cánh ngay sát động cơ turbin.

 

 

 

Thân máy bay có thiết kế gần giống với cơ cấu hình học của máy bay tiêm kích phản lực F-16 Falcon. Kiểu dáng thiết kế đặc biệt này chính là “liều thuốc kháng sinh” tương đối hiệu quả để nó có khả năng chống lại sự phát hiện của các rađa phòng không đối phương.

 

 

 

Vật liệu chế tạo phần lớn các bộ phận của máy bay sử dụng hợp kim nhôm, nhưng ở một số vị trí khi vận động cơ vận hành có thể sinh nhiệt cao lại chỉ sử dụng chất liệu titan. Giá thành loại vật liệu này tuy cao nhưng bù lại, nó rất hữu dụng để giúp máy bay tránh được sự truy đuổi của các tên lửa tầm nhiệt.

 

 

 

Hệ thống càng của B-1B Lancer được gia cường để có khả năng chịu đựng được sức mạnh của hàng chục tấn bom khi được cử đi tham chiến. Sau khi cất cánh, 2 càng gắn 4 bánh lăn sẽ được điều khiển tự động thu vào thân máy bay để tránh lực cản của không khí khi bay trong không trung.

 

Buồng lái.
Buồng lái.

 

 

Buồng lái được thiết kế giành cho kíp lái 4 người. Trong số này có 2 phi công điều khiển máy bay và 2 sỹ quan không quân phụ trách điều khiển vũ khí. Buồng lái của B-1B Lancer được tăng áp, phi công điều khiển máy bay bằng cần gạt giống như thiết kế điều khiển lái ở một số máy bay chiến đấu khác của không quân Mỹ.

 

 

 

Các thiết bị điện tử hàng không được chia thành 2 hệ thống chính đó là: Hệ thống điện tử hàng không tiến công OAS do hãng Boeing nghiên cứu và chế tạo, và hệ thống đối phó điện tử ALQ-161 của hãng Eaton-Ail.

B-1B Lancer được trang bị hệ thống rađa tiến công đa chế độ ORS bố trí ở phần mũi máy bay. Ngoài ra hệ thống điện tử hàng không OAS còn được hỗ trợ bởi hệ thống rađa đo độ cao APN-224, sensor đo tốc độ APN-218, 3 màn hình hiển thị đa năng Sperry. Ở một số máy bay B1-B Lancer, không quân Mỹ còn lắp đặt các thiết bị cảm biến hồng ngoại hỗ trợ quan sát phía trước của máy bay.

 

Khoang chứa bom của B1-B Lancer.
Khoang chứa bom của B1-B Lancer.

 

 

Tất cả bom đạn và vũ khí chiến đấu của B1-B Lancer được bố trí trong các khoang chứa trước và sau. Khoang chứa vũ khí phía trước dài 9,53 mét được chia thành 2 ngăn. Đáng chú ý trên khoang chứa vũ khí của B1-B Lancer có các vách ngăn di động, cho phép chứa 8 tên lửa hành trình không đối đất AGM-86B trên bệ phóng quay.

Khi B1-B Lancer thực hiện nhiệm vụ mang bom đi oanh kích các mục tiêu, mỗi khoang chứa được lắp đặt một module điều khiển bom đặc biệt. Mỗi chiếc B1-B Lancer có thể mang 84 quả bom MK82 với trọng lượng mỗi quả là 227 kg.

 

 

 

 

Không quân Mỹ đã ấp ủ chương trình cải tiến khả năng mang bom của B1-B Lancer để loại máy bay này có thể mang được các loại bom điều khiển CBU-87, CBU-89, CBU-97 và một số loại bom không điều khiển cỡ lớn như MK56, MK62 và MK65.

8 mấu treo được bố trí bên ngoài thân máy bay có thể được lắp đặt các loại bom dẫn đường bằng công nghệ laser Paveway, tên lửa đánh chặn không đối đất AGM-137 TSSAM và cả tên lửa không đối không để sử dụng khi bị máy bay chiến đấu của đối phương truy đuổi.

 

Một số thông số cơ bản của B1-B Lancer

Hãng sản xuất: Rockwell International
Kíp lái: 4 người
Động cơ: 4 động cơ turbin phản lực quạt thổi F101-GE-F102
Trọng lượng không tải: 87.090 kg
Trọng lượng tối đa khi cất cánh: 216.365 kg
Chiều dài: 44,81 mét
Chiều cao: 10,36 mét
Diện tích cánh: 181,2 m2
Tốc độ tối đa: 1.329 km/giờ
Trần bay: 18.300 mét
Vũ khí: đa đạng cho mỗi nhiệm vụ khác nhau
Gía thành mỗi chiếc: 200 triệu USD

Thảo luận

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: